CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ THẨM ĐỊNH VÀ CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI TRỢ DƯ ÁN ĐẦU TƯ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm Cho đến thời điểm hiện nay, cách hiểu và cách định nghĩa dự án đầu tư được thể hiện trên nhiều quan điểm khác nhau và góc nhìn khác nhau. Có quan điểm coi dự án là cách sử dụng các nguồn nhân lực vào mục đích sản xuất nhất định, cũng có quan điểm cho rằng dự án đầu tư là tập hợp các đối tượng được hình thành và hoạt động theo một kế hoạch cụ thể để đạt được mục tiêu nhất định (các lợi ích) trong một khoảng thời gian nhất định.
Để có thể hiểu rõ hơn về khái niệm dự án đầu tư, ta sẽ làm rõ nghĩa từng phần như sau: - Đầu tư là hoạt động sử dụng tiền vốn, tài nguyên trong một thời gian nhằm thu về lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế xã hội. - Dự án là một tổng hợp có tổ chức của các hoạt động và quy trình được sắp xếp theo một trật tự nhất định nhằm thực hiện các mục tiêu riêng biệt trong giới hạn về nguồn vốn và kỳ hạn đã xác lập trước. Theo “Điều lệ quản lí đầu tư và xây dựng” ban hành kèm theo NĐ số 177/CP ngày 20/10/1994 thì dự án đầu tư là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng thời gian xác định. Luật đầu tư đưa ra định nghĩa về dự án đầu tư tại khoản 8 điều 3 như sau: “Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoản thời gian xác định”.
Như vậy một dự án đầu tư cho dù được xem xét và dưới bất kì góc độ nào thì cũng đều có chung những đặc điểm sau đây: - Các mục tiêu cần đạt được khi thực hiện dự án là cụ thể và duy nhất. Phải biết được khi thực hiện dự án thì sẽ mang lại những lợi ích gì cho đất nước, xã 2 hội hoặc cho chủ đầu tư. Những mục tiêu này cần thể hiện bằng kết quả cụ thể như tạo nguồn thu cho ngân sách, giải quyết việc làm cho người lao động, mang lại lợi nhuận cho chủ đầu tư… - Các hoạt động của dự án là phải rõ ràng và thống nhất ở tất cả các giai đoạn. Dự án phải nêu rõ những hành động cụ thể phải thực hiện, địa điểm diễn ra các hoạt động của dự án, thời gian cần thiết để hoàn thành và các bộ phận có trách nhiệm thực hiện những hành động đó.
Các hoạt động này có mối liên hệ mật thiết với nhau, đều hướng tới sự thành công của dự án diễn ra trong một môi trường không chắc chắn. Môi trường dự án không phải là môi trường hiện tại mà là môi trường tương lai. Cái đầu tư là ở hiện tại nhưng nguồn thu và lợi nhuận lại là những thứ được hình thành ở tương lai. - Các nguồn lực cần thiết phải được đáp ứng đầy đủ về số lượng cũng như chất lượng.
Hoạt động đầu tư dự án không thể thực hiện được nếu thiếu các nguồn lực về vật chất, tài chính, con người… Vì vậy phải nêu rõ các nguồn lực cần thiết cho dự án. Tổng hợp các nguồn lực này chính là vốn đầu tư cần cho dự án. Bất cứ dự án nào cũng được xây dựng và thực hiện trong một sự giới hạn nhất định về nguồn lực. Phân loại dự án đầu tư Một dự án đầu tư có thể xác định theo nhiều cách.
Các dự án đầu tư có thể là do các bộ ngành hữu quan đề xuất, có thể bắt nguồn từ quá trình xây dựng các kế hoạch kinh tế quốc gia hay các doanh nghiệp tư nhân hoặc nhà nước cũng có các dự án đòi hỏi chính phủ phải trợ giúp hoặc phê chuẩn trước khi thực hiện. Các dự án đầu tư có thể phân loại như sau: Phân loại theo số vốn đầu tư: tùy theo số vốn đầu tư dự tính mà dự án được phân loại thành lớn, vừa và nhỏ. Phân loại theo sự tác động của các dự án đầu tư khác đến lợi ích thu được từ dự án đầu tư được xem xét: Loại thứ nhất: dự án có thể tự đứng vững một cách độc lập. Dự án đầu tư A không phụ thuộc (độc lập) dự án B về mặt kinh tế khi thoả hai điều kiện : Thứ nhất dự án 3 A phải có tính khả thi về mặt kỹ thuật mặc dù dự án B có được chấp thuận hay không, thứ hai lợi ích thuần dự kiến của dự án A không bị chi phối bổi sự chấp thuận dự án B hay không.
Loại thứ hai: dự án khác chỉ có thể thành công khi có thêm các dự án đầu tư khác yểm trợ. - Dự án đầu tư bổ sung: Nếu do việc thực hiện dự án B mà lợi ích dự kiến của dự án A tăng lên thì dự án B được coi như là bổ sung cho dự án A. - Dự án đầu tư thay thế: Nếu do việc thực hiện dự án B mà lợi ích dự kiến của dự án A giảm xuống thì dự án B được coi như là thay thế cho dự án A. Loại thứ ba: là dự án loại trừ nhau: các dự án này sẽ vô tác dụng nếu có các dự án cạnh tranh khác được thông qua: Trường hợp dự án A bị loại hoàn toàn khi dự án B được thông qua thì A, B dự án được gọi là loại trừ nhau.
Phân loại theo hình thức lợi ích thu được: phân loại theo tiêu thức này sẽ chia làm 2 loại đó là dự án công và dự án tư. Phân loại theo bộ phận chức năng liên quan của dự án đầu tư. Ví dụ: công ty dầu mỏ có thể phân loại dự án đầu tư theo các hoạt động: tìm kiếm thăm dò, khai thác, vận chuyển … Phân loại ngành nghề theo lĩnh vực kinh doanh: dự án sẽ được phân theo từng nhóm ngành nghề khác nhau. Phân loại theo tính chất kinh tế hay xã hội: - Dự án tạo thu nhập: Mục tiêu chính của dự án này là tạo ra lợi nhuận.
- Dự án phát triển: Mục tiêu chính của loại dự án này là tạo ra sự phát triển của một vùng, một miền hoặc của một quốc gia. Các đặc điểm của dự án đầu tư Từ khái niệm nêu trên đã phần nào làm rõ được các đặc điểm chính yếu của một dự án đầu tư. Đó là: - Dự án là một công việc không thường kỳ - Sản phẩm của một dự án là duy nhất 4 - Các hoạt động của dự án phải liên quan với nhau theo một trật tự thời gian nhất định. Ví dụ: một công việc chỉ có thể bắt đầu khi một số công việc khác đã kết thúc hoặc có những mốc thời gian của các giai đoạn chính của dự án.
- Mục tiêu và thời hạn là cụ thể: một dự án phải có một mục tiêu rõ ràng và cụ thể, hơn nữa nó phải có thời hạn (deadline) và kết quả (output) rõ ràng. Các kết quả phải thể hiện rõ những mục tiêu cuả dự án. - Ba điều kiện ràng buộc của dự án là ngân sách, kết quả, thời hạn. Các bước cơ bản khi tiến hành một dự án đầu tư Bước 1: Cần xác định được những điều sau: Mục đích; Ngân sách; Lịch trình thực hiện; Nhiệm vụ.
Bước 2: Nghiên cứu tiền khả thi Một dự án đầu tư thường được NCTKT dưới 6 khía cạnh và được tóm tắt như sau: Phân tích thị trường; Phân tích kỹ thuật; Phân tích nhân lực và quản lý; Phân tích tài chính hay ngân sách; Phân tích hiệu quả kinh tế Bước 3: Nghiên cứu khả thi Nội dung của nghiên cứu khả thi, gần giống như NCTKT, tuy nhiên việc nghiên cứu sẽ chi tiết hơn. NCKT bao gồm các bước sau : Những căn cứ để xác định sự cần thiết phải đầu tư; Lựa chọn hình thức đầu tư; Các mục tiêu và sản phẩm của dự án; Phân tích đặc điểm khu vực của dự án; Phân tích lựa chọn công nghệ; Các phương án và giải pháp xây dựng; Phân tích tài chính; Phân tích ý nghĩa xã hội. Bước 4: Thiết kế, lập kế hoạch chi tiết Cụ thể hóa các nội dung của dự án theo thời gian (hạn mục). Kế hoạch, ký kết hợp đồng với các bên tham gia dự án cũng như các bên tư vấn, giám sát dự án… Bước 5: Thực hiện dự án Triển khai dự án theo thiết kế và kế hoạch đã định.
Bước 6: Đánh giá hậu dự án Công tác đánh giá hậu dự án nhằm theo dõi chất lượng công trình đã thực hiện, đánh giá lợi ích mà dự án mang lại có như mục tiêu đã đề ra ban đầu hay không, kiểm tra và khắc phục những sự cố phát sinh (nếu có) trong quá trình sử dụng. 5 Công tác đánh giá hậu dự án là rất cần thiết và cũng đòi hỏi chuyên môn kĩ thuật nhất định. Công tác này sẽ mang tính đảm bảo nguồn thu ổn định cho nhà đầu tư. Nguồn tài chính của dự án đầu tư Từ những công tác đánh giá khảo sát ban đầu chủ đầu tư có thể ước lượng được tương đối những chi phí của dự án cũng như những chi phí phát sinh từ đó đi tìm nguồn tài trợ cho dự án.
Sở dĩ phải tách nguồn tài trợ ra một mục riêng vì đây là yếu tố cực kì quan trọng, nó mang tính chất quyết định sự thành bại của một dự án đầu tư. Một dự án đầu tư có thể được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau. Do đó cần xác định rõ từng nguồn được sử dụng cho dự án trên các mặt: lượng vốn, thời điểm tài trợ và chi phí sử dụng vốn. Tài trợ dự án đầu tư tại các NHTM Tài trợ dự án là một thuật ngữ để mô tả khoản tài trợ của bất kỳ dự án đầu tư nào thông qua bất cứ nguồn vốn nào.
Tuy nhiên nếu được hỏi định nghĩa của Tài trợ dự án có lẽ mỗi ngân hàng ở Việt Nam sẽ có một định nghĩa và cách nhìn riêng về vấn đề này.