Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng đào trình bày các khái niệm, lý thuyết về quản lý chất lượng, đảm bảo chất lượng trong giáo dục đại học, mô hình đảm bảo chất lượng theo AUN-QA; lược khảo các nghiên cứu có liên quan trong và ngoài nước làm cơ sở hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn. Chương 2: Phân tích thực trạng về chất lượng đào tạo tại Trung tâm theo tiêu chuẩn AUN-QA (giai đoạn 2017 – 2020). Từ kết quả hoạt động đào tạo KNXH cũng dựa trên kết quả khảo sự hài lòng của sinh viên và các bên liên quan cùng thảo luận với các chuyên gia đầu ngành để phân tích thực trạng về CLĐT tại Trung tâm. Chương 3: Các giải pháp cải thiện CLĐT tại Trung tâm Đào tạo kỹ năng xã hội - Trường Đại học Thủ Dầu Một (Giai đoạn 2021 – 2023).
Luận văn dựa trên những 8 kết quả phân tích thực trạng tại chương 2, định hướng phát triển của TDMU và Trung tâm trong giai đoạn tiếp theo để hình thành các giải pháp cải thiện CLĐT tại Trung tâm dựa trên tiêu chuẩn AUN-QA phiên bản 3. Tóm tắt phần mở đầu Luận văn trình bày về lý do chọn đề tài, xác định mục tiêu nghiên cứu; phạm vị và đối tượng nghiên cứu. Phương pháp sử dụng trong nghiên cứu của đề tài bao gồm: phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng. Các số liệu thứ cấp và sơ cấp được sử dụng trong nghiên cứu, trong đó số liệu thứ cấp được thu thập từ 2017 đến 2020 thuộc các văn bản công bố về tình hình đào tạo, kiểm định chất lượng của Bộ Giáo dục và Đào tạo, UBND tỉnh Bình Dương, TDMU và các đơn vị chức năng trực thuộc TDMU; các báo cáo khoa học, tạp chí khoa học, số liệu thống kê từ Trung tâm; số liệu sơ cấp được thu thập thông qua bảng câu hỏi khảo sát sự hài lòng của sinh viên và các bên liên quan về CLĐT tại Trung tâm.
9 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO 1. Khái niệm về quản lý Theo ISO 9000:2015, quản lý là các hoạt động có phối hợp để định hướng và kiểm soát một tổ chức. Quản lý bao gồm thiết lập chính sách mục tiêu và các quá trình để đạt được những mục tiêu này [36]. Khái niệm về quản lý chất lượng Theo ISO 9000:2015, quản lý chất lượng là quản lý liên quan đến chất lượng.
Quản lý chất lượng bao gồm thiết lập chính sách chất lượng, mục tiêu chất lượng và các quá trình để đạt được những mục tiêu chất lượng này thông qua hoạch định chất lượng, ĐBCL, kiểm soát chất lượng và cải tiến chất lượng [39]. Khái niệm về chất lượng Chất lượng là một khái niệm quen thuộc với cuộc sống hàng ngày từ thời cổ đại đến ngày nay. Tuy nhiên, chất lượng cũng là một khái niệm gây ra rất nhiều sự tranh luận. Tùy theo từng đối tượng, việc sử dụng, “chất lượng” có ý nghĩa khác nhau nên cách hiểu và giải thích về chất lượng tương đối đa dạng.
Theo tổ chức kiểm tra chất lượng Châu Âu (European Organization for Quality Control), CL là mức phù hợp của sản phẩm đối với yêu cầu người tiêu dùng [38]. Theo Kaoru Ishikawa (được trích dẫn bởi Hoàng Mạnh Dũng, 2019), chất lượng là khả năng thỏa mãn nhu cầu của thị trường với chi phí thấp nhất [6]. Theo Nguyễn Kim Dung & Phạm Xuân Thanh (2003), CLĐT là sự đáp ứng của sản phẩm đào tạo đối với các chuẩn mực và tiêu chí đã được xác định [10]. Mặc dù, có nhiều định nghĩa khác nhau về chất lượng từ các chuyên gia, nhà quản lý, nhà sản xuất, người bán lẻ cho đến người tiêu dùng; khái niệm về chất lượng ngày càng được mở rộng khi toàn thế giới đang thay đổi nhanh chóng trước cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Khái niệm về chất lượng giáo dục đại học 10 Theo Burrows và Harvey (1993), chất lượng GDĐH được định nghĩa rất khác nhau tuỳ theo từng thời điểm và giữa những người quan tâm: SV, giảng viên, người sử dụng lao động, các tổ chức tài trợ và các cơ quan kiểm định; trong nhiều bối cảnh còn phụ thuộc vào tình trạng phát triển KT-XH của mỗi nước [26]. Theo Harvey và Green (1993) đề cập đến năm khía cạnh chất lượng GDĐH: chất lượng là sự vượt trội (hay sự xuất sắc); chất lượng là sự hoàn hảo (kết quả hoàn thiện, không có sai sót), chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu (đáp ứng nhu cầu của khách hàng); chất lượng là sự đáng giá về đồng tiền (trên khía cạnh đáng giá để đầu tư); và chất lượng là sự chuyển đổi (sự chuyển đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác) [30]. Định nghĩa của Harvey và Green (1993) đã được nhiều tác giả khác thảo luận, công nhận và phát triển. Các tổ chức ĐBCL GDĐH của Hoa Kỳ, Anh và nhiều nước khác đang sử dụng khái niệm “chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu”.
Các tổ chức khác vận dụng khái niệm “chất lượng là sự xuất sắc” để so sánh chất lượng GDĐH giữa các quốc gia hay giữa các trường đại học khác nhau [32]. Khái niệm “chất lượng là có giá trị gia tăng” của Feigenbaum (1951) được vận dụng để khuyến khích các cơ sở GDĐH quan tâm đến không ngừng cải thiện CL dạy và học [29]. Khái niệm về đảm bảo chất lượng trong giáo dục đại học Theo Ellis (1993), ĐBCL được xem là một quá trình “nơi mà một nhà sản xuất đảm bảo với khách hàng là sản phẩm hay dịch vụ của mình luôn đáp ứng được các chuẩn mực” [27]. Lý thuyết chủ đạo của hệ thống ĐBCL xuất phát từ lĩnh vực kinh doanh sau đó được đưa vào giáo dục.
Quá trình này bắt đầu khi thuyết “14 điểm nguyên tắc quản lý” của Edwards Deming (1986) được giới thiệu rộng rãi. Sau đó, Juran (1988; 1989) và Crosby (1979) đã phát triển các ý tưởng nhằm củng cố chất lượng trong các tổ chức. Như vậy, ĐBCL giáo dục là một hệ thống các biện pháp, các hoạt động có kế hoạch được tiến hành trong và ngoài nhà trường được chứng minh là đủ mức cần thiết để tạo ra sự tin tưởng thoả đáng rằng các hoạt động và sản phẩm (học sinh, sinh viên) sẽ thoả mãn đầy đủ các yêu cầu theo chuẩn đầu ra của CTGD. Khái niệm về sự hài lòng của người học Theo Kotler và Keller (2006), sự hài lòng là mức độ trạng thái cảm giác của một người bắt nguồn từ việc so sánh nhận thức về một sản phẩm so với mong đợi của người đó [32].
Theo Elliott and Shin (2002) định nghĩa: “Sự hài lòng là những đánh giá chủ quan của SV về các yếu tố đầu ra và những kinh nghiệm có liên quan đến giáo dục. Sự hài lòng của SV đang tiếp tục được hình thành qua kinh nghiệm được tích lũy trong môi trường đại học” [28]. Khái quát về kỹ năng xã hội KNXH còn được gọi là kỹ năng sống, kỹ năng mềm. Theo Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hoá Liên hiệp quốc (UNESCO): “Kỹ năng sống gắn với 4 trụ cột của giáo dục thế kỷ XXI: Học để biết – Học để làm – Học để chung sống – Học để tự khẳng định mình.
Theo đó, kỹ năng sống được định nghĩa là những năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các công việc khi tham gia vào cuộc sống hàng ngày” [40]. Tổ chức Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF) cho rằng: “Kỹ năng sống là những kỹ năng tâm lý xã hội có liên quan đến tri thức, những giá trị và thái độ, cuối cùng thể hiện ra bằng hành vi làm cho cá nhân thích nghi và giải quyết có hiệu quả các yêu cầu và thách thức của cuộc sống” [40]. Tại Việt Nam cũng có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm kỹ năng sống. Theo Nguyễn Thị Oanh (2010) cho rằng: “Kỹ năng sống là năng lực tâm xã hội để đáp ứng và đối phó với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày” [9].
Theo Huỳnh Văn Sơn (2020) cho rằng: “Kỹ năng sống là những kỹ năng tinh thần hay kỹ năng tâm lý, kỹ năng tâm lý – xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn tại và thích ứng trong cuộc sống”. Những kỹ năng này giúp thể hiện được chính mình cũng như tạo ra những nội lực cần thiết để thích nghi và phát triển. Kỹ năng sống được xem như một biểu hiện quan trọng của năng lực tâm lý xã hội giúp cho cá nhân vững vàng trước cuộc sống với nhiều thách thức trong thực tại” [41]. Tổ chức AUN và bộ tiêu chuẩn AUN-QA phiên bản 3.
Tổ chức AUN Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 4 năm 1992 đã kêu gọi các nước thành viên trong khu vực ĐNA trợ giúp việc “thúc đẩy sự đoàn kết và phát triển khu vực thông qua tăng cường phát triển nguồn nhân lực cũng như thắt chặt thêm mạng lưới các trường đại học và các viện giáo dục hàng đầu trong khu vực”. Ý tưởng này dẫn đến thành lập AUN vào tháng 11 năm 1995 với việc ban hành Hiến chương về GDĐH cho 6 nước thành viên, cùng với sự tham gia của 11 trường đại học của các nước này. Bản ký kết thỏa thuận thành lập mạng lưới các trường đại học ĐNA đã được ký bởi Chủ tịch hoặc Hiệu trưởng của các trường đại học thành viên. Các hoạt động hiện tại của AUN được phân thành 05 lĩnh vực bao gồm (1) Các chương trình trao đổi dành cho giới trẻ, (2) Hợp tác học thuật, (3) Các tiêu chuẩn, Cơ chế, Hệ thống và Chính sách hợp tác GDĐH, (4) Môn học và Phát triển chương trình và (5) Các diễn đàn về chính sách khu vực và toàn cầu.
Mối quan tâm chiến lược của AUN được xác định bởi các thành viên khu vực Đông Nam Á. Qua đó xúc tiến hợp tác trong khu vực với việc đẩy mạnh: - Tăng cường mạng lưới các trường đại học hiện tại trong khu vực và mở rộng hơn nữa. - Đẩy mạnh các nghiên cứu hợp tác, điều tra và các CTĐT ở những lĩnh vực ưu tiên do ASEAN chỉ định. - Tăng cường hợp tác và đoàn kết giữa các học giả, các nhà học thuật, nhà nghiên cứu trong các khối thành viên ĐNA.
- Phục vụ các cơ quan giáo dục trong khu vực ĐNA và giới thiệu về AUN [37]. Bộ tiêu chuẩn AUN-QA phiên bản 3.0 AUN-QA là bộ tiêu chuẩn với các tiêu chuẩn cùng các tiêu chí cụ thể, tập trung đánh giá những điều kiện để ĐBCL đào tạo của một CTĐT.2: Mô hình ĐBCL cấp CTĐT theo AUN-QA (phiên bản 3.0) Nguồn: Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 2016 Phiên bản 3.