ĐẶT VẤN ĐỀ Ngày nay, cùng tiến theo đà phát triển của nền kinh tế và sự gia tăng dân số, nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân cũng đư ợc đặt lên hàng đầu. Từ nhu cầu đó mà ngành dược phẩm nước ta có những bước phát triển vượt bậc làm đa dạng và phong phú hơn các dược phẩm trong nước bên cạnh những sản phẩm nhập khẩu từ nước ngoài. Do đó, có thể nói ngành dược cũng là m ột ngành kinh tế quan trọng trên toàn thế giới. Điểm nổi bật của ngành dược là bên cạnh tính kinh doanh và lợi nhuận còn là mục tiêu chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của người tiêu dùng.
Ngày 19/4/2007, Bộ Y Tế ban hành quyết định số 27/2007/QĐ- BYT về lộ trình triển khai nguyên tắc “Thực hành tốt sản xuất thuốc” (GMP) và “Thực hành tốt bảo quản thuốc” (GSP) được thực hiện. Chỉ có các doanh nghiệp đáp ứng được những tiêu chuẩn này mới có thể tồn tại kinh doanh và phát triển. Tuy nhiên quá trình sản xuất, bào chế các loại dược phẩm này thải ra một lượng nước thải có những thành phần và tính chất đặc trưng gây nhiều tác hại xấu đến môi trường. Nước thải ngành dược chứa đa số là các hợp chất khó phân hủy sinh học.
Đa số các hợp chất này dễ dàng vượt qua được các phương pháp xử lý hóa học và sinh học thông thường. Vì vậy, để được tiếp tục hoạt động và phát triển, xưởng sản xuất thuốc viên thuộc Công ty CP Pymepharco Phú yên cần phải có một hệ thống xử lý nước thải sản xuất hoạt động hiệu quả với nước thải đầu ra đạt tiêu chuẩn môi trường yêu cầu. Cho nên việc xử lý ô nhiễm sinh ra trong quá trình sản xuất thuốc là một trong những yếu tố cần thiết để công ty đạt được tiêu chuẩn “Thực hành tốt sản xuất thuốc” của Tổ chức Y Tế thế giới. Đề tài “Cải tạo nâng cấp trạm xử lý nước thải xưởng sản xuất thuốc viên - Công ty cổ phần Pymepharco tỉnh Phú Yên, công suất 20m3/ngày đêm” được thực hiện nhằm mục đích đề xuất phương án xây dựng cải tạo một hệ thống xử lý nước thải vừa hiệu quả vừa tiết kiệm chi phí góp phần xây dựng nhà máy phát triển vững mạnh và đạt được các tiêu chuẩn hiện hành.
MỤC TIÊU CỦA LUẬN VĂN Nghiên cứu, lựa chọn phương án xây dựng cải tạo hệ thống xử lý nư ớc thải cho xưởng sản xuất thuốc viên của công ty mang tính khả thi cao. NỘI DUNG CỦA LUẬN VĂN − Tìm hiểu quy trình công nghệ sản xuất thuốc viên của công ty; 1 − Nhận diện nguồn gây ô nhiễm trong sản xuất dược phẩm và đánh giá mức độ ô nhiễm; − Xác định thành phần và tính chất nước thải phát sinh trong quá trình sản xuất; − Đánh giá hiện trạng hệ thống xử lý nước thải công suất 20m3/ngđ của xưởng sản xuất thuốc viên – Công ty CP Pymepharco; − Tổng quan nghiên cứu các phương pháp xử lý nước thải ngành dược phẩm; − Đề xuất phương án cải tạo hệ thống xử lý nước thải hiện hữu; − Tính toán, thiết kế các công trình cải tạo, nâng cấp trong trạm xử lý nước thải; − Khai toán kinh phí. PHẠM VI VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU − Nước thải sản xuất từ phân xưởng sản xuất thuốc viên của Công ty CP Pymepharco. − Thời gian thực hiện khoá luận từ ngày 25/09/2012 đến 25/12/2012.
PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN − Phương pháp kế thừa, thu thập số liệu: kế thừa số liệu, tài liệu liên quan đến các vấn đề môi trường và từ hệ thống xử lý nước thải đã có; tham khảo tài liệu từ sách, luận văn, internet… Qua đó phân tích, đánh giá và xử lý thông tin để lấy những thông tin cần thiết để phục vụ cho đề tài. − Phương pháp đánh giá, so sánh: rút ra nhận xét, đánh giá từ hiện trạng môi trường của doanh nghiệp; so sánh các thông số với quy chuẩn để đề xuất phương án xử lý phù hợp; tiến hành so sánh, phân tích các công nghệ có thành phần tính chất nước thải tượng tự được áp dụng trước đó nhằm lựa chọn công nghệ thích hợp. − Phương pháp chuyên gia: tham khảo ý kiến của giáo viên hướng dẫn, của cán bộ môi trường tại doanh nghiệp. Ý NGHĨA THỰC TIỄN • Đối với môi trường: − Giảm thiểu sự tác động của nước thải phát sinh từ nhà máy đến môi trường và cộng đồng dân cư xung quanh.
− Góp phần cải thiện môi trường trong khu vực nhờ giảm thiểu nồng độ ô nhiễm của nước thải. − Hạn chế hậu quả môi trường tiềm tàng do nguồn nước thải phát sinh. 2 • Đối với nhà máy: − Nâng cấp thiết kế trạm xử lý nước thải phù hợp về chi phí xây dựng, vận hành và đảm bảo chất lượng xả thải đạt QCVN 40:2011/BTNMT loại B. − Tạo được uy tín trong việc tuân thủ các yêu cầu của nhà nước về bảo vệ môi trường, góp phần nâng cao hình ảnh của công ty.
3 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN NGÀNH SẢN XUẤT DƯỢC PHẨM VÀ CÔNG TY CỔ PHẦN PYMERPHACO 2. TỔNG QUAN NGÀNH DƯỢC PHẨM 2. Xu hướng phát triển ngành Theo đánh giá của tổ chức y tế thế giới (WHO), công nghiệp dược Việt Nam ở mức đang phát triển. Việt Nam đã có công nghi ệp dược nội địa, nhưng đa số phải nhập khẩu nguyên vật liệu, do đó nhìn nh ận một cách khách quan có thể nói rằng công nghiệp dượcViệt Nam vẫn ở mức phát triển trung bình thấp.
Mặc dù công nghiệp Dược trên thế giới tăng trưởng chậm lại trong 2 năm gần đây, Công nghiệp Dược ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, vẫn có thể đạt tốc độ tăng trưởng 12% - 15% trong giai đoạn 2009 – 2012. Công nghiệp Dược Việt Nam vẫn phát triển ở mức trung bình – thấp, hiện có khoảng 52% doanh nghiệp được đủ tiêu chuẩn sản xuất thuốc. Thuốc sản xuất trong nước chủ yếu là generic, không có giá trị cao, mới chỉ đáp ứng được 50% nhu cầu tiêu thụ thuốc nội địa. Trong những năm gần đây, nền kinh tế - xã hội phát triền, mức sống của người dân được nâng cao, chỉ tiêu cho tiền thuốc hàng năm tăng lên.
Với lợi thế về dân số đông và trẻ, Việt Nam là một thị trường tiêu thụ tiềm năng đối với các doanh nghiệp sản xuất thuốc trong nước cung như đa quốc gia. Do đó các doanh nghiệp trong nước phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt từ các đối thủ nước ngoài, đặc biệt khi thời hạn bảo hộ các doanh nghiệp dược trong nước sau khi gia nhập WTO sắp hết. Tuy nhiên với lợi thế về hệ thống phân phối sẵn có cùng các ưu đãi hi ện tại về giá cả, thuế suất… của Chính phủ, các doanh nghiệp trong nước có thể tận dụng thời cơ này tập trung đầu tư xây dựng hệ thống nhà xưởng, mua máy móc thiết bị sản xuất, cải tiến công nghệ, đồng thời mở rộng thị phần dần dần ra khỏi khu vực trong nước. Kinh tế Việt Nam những năm qua tăng trưởng đều và ổn định tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành kinh tế phát triển.
Nhưng cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã ảnh hưởng mạnh đến nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt ngành công nghiệp chế biến xuất nhập khẩu, tài chình ngân hàng, bất động sản. So với các ngành khác thì Dư ợc là một ngành ít chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng nhất, vì đây là mặt hàng thiết yếu đối với người dân. Phần lớn người dân Việt Nam tập trung ở nông thôn, thường có mức sống thấp, có nhu cầu các loại thuốc có giá thành rẻ, đ ây là đ iều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp dược Việt Nam mở rộng thị trường. Hơn nữa, tình trạng sức khỏe ngày càng 4 được quan tâm vì vậy có nhu cầu thuốc cao để đảm bảo sức khỏe.
Đây cũng là điều kiện thuận lợi để phát triển ngành Dược. Các giai đoạn phát triển − Giai đoạn 1975 – 1990: Ngành dược Việt Nam trong giai đoạn thời bao cấp. Ngành dược Việt Nam giai đoạn này chủ yếu bao gồm các doanh nghiệp nhà nước, sản xuất không đáng kể. Mức tiêu thụ bình quân thuốc trên đầu người thời kì này đạt vào khoảng 0,5 – 1 USD/năm.
Do thuốc trong thời kì này khan hiếm nên tiêu chuẩn chất lượng thuốc trong sử dụng chưa được chú trọng. − Giai đoạn 1991 – 2005: Ngành dược bước vào thời kì đ ổi mới, thực hiện sự chuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường. Các xí nghiệp, công ty nhà nước trong ngành dược thay đổi cơ cấu tập trung, cổ phần hóa đầu tư sản xuất, đầu tư vào chiều sâu, nâng cấp thực hiện các quy định về thực hành tốt sản xuất GMP. Số lượng thuốc được sản xuất ngày càng nhiều, từ 175 hoạt chất lên đến 384 hoạt chất.
Cơ quan quản lý cấp cao của ngành dược là Cục Quản lý Dư ợc được thành lập. Luật Dược cũng được ban hành, làm cơ sở pháp lý cao nhất điều chỉnh toàn bộ hoạt động trong lĩnh vực dược để ngành dược Việt Nam hoạt động trong môi trường pháp lý hoàn chỉnh và đồng bộ. − Giai đoạn 2006 – 2007: Ngành dược tiếp tục phát triển với tốc độ cao, khoảng 18 – 20%/năm. Việt Nam gia nhập WTO mang lại những thuận lợi cũng như khó khăn cho ngành Dược.
Năm 2006 – 2007, ngành dược đạt được tốc độ tăng trưởng cao trông bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển. Đây cũng là giai đoạn mà các công ty dược phẩm đã đạt được chứng nhận GMP- ASEAN đẩy mạnh đầu tư GMP – WHO. Việt Nam gia nhập WTO có những ảnh hưởng nhất định đến ngành dược. Bên cạnh những thuận lợi về môi trường đầu tư, tiếp cận công nghệ mới, đón một lượng vốn đầu tư lớn có cơ hội lựa chọn nguồn nguyên liệu đa dạng với chi phí hợp lý… ngành dư ợc phải đối mặt với không ít khó khăn như: năng lực cạnh tranh yếu, thiếu hiểu biết các quy định sở hữu trí tuệ, thiếu vốn, kĩ thuật công nghệ,đối mặt với các doanh nghiệp nước ngoài khi chính phủ cam kết giảm thu ế xuất nhập khẩu, nới lỏng chính sách với các doanh nghiệp nước ngoài.
− Giai đoạn 2008 – 2012: Ngành dược Việt Nam có những chuẩn bị và chủ động hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới nhằm đảm bảo cung cấp đủ thuốc có chất lượng và an toàn. Sau hơn 20 năm phát triển trong môi trường cạnh tranh, có thể khẳng định thị trường dược Việt Nam đã cơ b ản vận hành theo cơ chế thị trường và đặc thù riêng của một ngành kinh doanh đặc biệt. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN PYMEPHARCO 2.