Tổng quan luận án

Đề tài "Đổi mới và hoàn thiện pháp luật trong quản lý Nhà nước đối với người nước ngoài ở nước ta hiện nay" do nghiên cứu sinh Bùi Quang Bề thực hiện, dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Tiến sĩ Trần Đình Nhã, chuyên ngành Lý luận Nhà nước và pháp quyền (mã số 5.01), bảo vệ năm 1996 tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Lịch sử quan hệ quốc tế xác lập rằng quản lý người nước ngoài là một nhu cầu thực tiễn tất yếu, nhằm ba mục đích cơ bản: bảo đảm an toàn, tạo thuận lợi cho người nước ngoài cư trú, đi lại, hoạt động tại nước sở tại; giữ gìn an ninh trật tự, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật trên lãnh thổ; và củng cố quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa các quốc gia. Quản lý người nước ngoài là một mặt của quản lý Nhà nước trên lĩnh vực bảo vệ an ninh quốc gia.

Tại Việt Nam, từ khi Đảng và Nhà nước chủ trương mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế theo phương châm "thêm bạn, bớt thù", số lượng người nước ngoài nhập cảnh hàng năm gia tăng nhanh chóng với mục đích, thành phần đa dạng. Đại bộ phận người nước ngoài đóng góp tích cực vào quan hệ hợp tác, hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, một bộ phận không nhỏ đã lợi dụng chính sách mở cửa, các kẽ hở của hệ thống pháp luật và sự sơ hở, buông lỏng trong quản lý để tiến hành các hoạt động phức tạp, gây phương hại đến an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.

Trong khi đó, công tác quản lý Nhà nước đối với người nước ngoài chưa đổi mới kịp thời từ nhận thức, quan điểm đến hệ thống pháp luật và cơ chế vận hành. Nhiều chủ trương, chính sách chưa được thể chế hóa đồng bộ. Sự phối hợp giữa các cơ quan, ban, ngành chưa chặt chẽ, thiếu thống nhất. Tình trạng này vừa cản trở tiến trình mở cửa, vừa tác động tiêu cực đến an ninh quốc gia và các lợi ích kinh tế, chính trị, văn hóa, đối ngoại. Trước thời điểm luận án triển khai, lĩnh vực nghiên cứu khoa học về quản lý người nước ngoài nói chung và cơ chế điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực này nói riêng ở Việt Nam còn khiêm tốn; chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích chính của luận án là góp phần làm sáng tỏ những cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm xác định những đặc trưng, vai trò và nội dung của quản lý Nhà nước đối với người nước ngoài. Để thực hiện mục đích trên, luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Đi sâu phân tích, làm rõ khái niệm về cơ chế điều chỉnh pháp luật, vai trò của pháp luật trong cơ chế quản lý Nhà nước đối với người nước ngoài ở nước ta hiện nay.
  2. Luận giải những luận cứ khoa học phục vụ việc mở rộng nghiên cứu về quản lý người nước ngoài nhằm từng bước hoàn thiện lĩnh vực công tác này cả về phương diện lý luận và thực tiễn.
  3. Đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn quản lý người nước ngoài ở nước ta hiện nay, phân tích nguyên nhân của thực trạng và kiến nghị các giải pháp đổi mới, hoàn thiện hệ thống luật pháp, cơ chế quản lý Nhà nước đối với người nước ngoài ở Việt Nam trong giai đoạn mới.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Cơ chế điều chỉnh pháp luật và hoạt động quản lý Nhà nước đối với người nước ngoài tại Việt Nam.
  • Phạm vi nghiên cứu: Quản lý người nước ngoài là một phạm trù rộng lớn thuộc chức năng của nhiều ngành, nhiều cấp. Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu vào cơ chế quản lý Nhà nước đối với người nước ngoài thuộc phạm vi chức năng của Ngành Công an (Bộ Nội vụ), tập trung vào các mặt công tác xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú và đi lại trên lãnh thổ Việt Nam trong giai đoạn bắt đầu công cuộc đổi mới đến giữa thập niên 1990 (mốc công bố năm 1996).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án điểm lại các công trình nghiên cứu và tài liệu học thuật đã công bố tại Việt Nam có liên quan đến địa vị pháp lý và công tác quản lý người nước ngoài:

  • Chuyên đề "Địa vị pháp lý của người nước ngoài, người không quốc tịch" trong Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội (1994).
  • Nội dung "Địa vị người nước ngoài" trong Giáo trình Pháp luật Đại cương của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (1995).
  • Bài viết "Địa vị pháp lý của người nước ngoài tại Việt Nam và công tác quản lý người nước ngoài của ta" đăng trên Tạp chí Công an Nhân dân (1995).
  • Bài báo của tác giả Thái Công Khanh: "Bàn về thuật ngữ 'người nước ngoài', 'người Việt Nam định cư ở nước ngoài' trong Bộ luật Dân sự", đăng trên Tạp chí Tòa án Nhân dân (số 5/1996).
  • Bài báo của tác giả Nguyễn Ngọc Anh: "Một số vấn đề về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trong Bộ luật Dân sự. Bộ luật Dân sự và vấn đề quốc tịch", đăng trên Tạp chí Công an Nhân dân (số tháng 7/1996).
  • Các giáo trình chuyên ngành như Giáo trình Tư pháp quốc tế của Trường Đại học Ngoại giao Hà Nội (1978 - 1979) và Giáo trình Tư pháp quốc tế của Trường Đại học Quốc gia Hà Nội (1995).
  • Nghiên cứu phân loại địa vị pháp lý của người nước ngoài của tác giả Lê Anh Tuấn.
  • Nghiên cứu về quản lý an ninh của tác giả Trần Đại Quang trong bài viết "Mấy vấn đề quản lý Nhà nước về công tác an ninh".
  • Giáo trình Quản lý Hành chính Nhà nước của Học viện Hành chính Quốc gia (1994).

Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết: Các công trình kể trên tiếp cận vấn đề ở từng góc độ riêng lẻ như luật hành chính, luật dân sự, tư pháp quốc tế hoặc góc độ nghiệp vụ chuyên ngành. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về cơ chế điều chỉnh pháp luật trong quản lý Nhà nước đối với người nước ngoài gắn với chức năng quản lý an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội của lực lượng Công an nhân dân. Luận án đặt mục tiêu lấp đầy khoảng trống này bằng cách kết hợp lý luận quản lý Nhà nước về an ninh quốc gia với lý luận về cơ chế điều chỉnh pháp luật.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các khái niệm sử dụng

Luận án vận dụng nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về Nhà nước và pháp luật, tập trung vào mảng lý luận quản lý Nhà nước về an ninh quốc gia và lý luận điều chỉnh pháp luật:

  • Khái niệm người nước ngoài: Tác giả phân tích hai cách hiểu theo luật học quốc tế. Nghĩa hẹp chỉ bao gồm người có quốc tịch nước ngoài; nghĩa rộng bao gồm cả người có quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch cư trú tại nước sở tại. Luận án khẳng định pháp luật Việt Nam thừa nhận cách hiểu theo nghĩa rộng: người nước ngoài là tự nhiên nhân không có quốc tịch Việt Nam (bao gồm người mang quốc tịch nước khác được chứng minh bằng hộ chiếu hợp lệ và người không có quốc tịch của bất kỳ quốc gia nào). Khái niệm này chỉ áp dụng cho thể nhân (tự nhiên nhân), không bao gồm pháp nhân hay Nhà nước nước ngoài.
  • Khái niệm quản lý Nhà nước về an ninh quốc gia: An ninh quốc gia cấu thành bởi an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh văn hóa - tư tưởng và an ninh xã hội, trong đó an ninh chính trị giữ vai trò chi phối. Quản lý Nhà nước về an ninh quốc gia là tác động có tổ chức và được điều chỉnh bằng pháp luật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp nhằm bảo đảm sự tồn tại vững chắc của chế độ chính trị, chủ quyền quốc gia, giữ vững ổn định chính trị, phòng ngừa các hành vi gây phương hại đến thể chế. Bộ Nội vụ giữ vị trí trung tâm, lực lượng Công an nhân dân là nòng cốt.
  • Cơ chế điều chỉnh pháp luật trong quản lý người nước ngoài: Là quá trình Nhà nước (trực tiếp là hệ thống các cơ quan quản lý người nước ngoài) thực hiện sự tác động bằng pháp luật lên các quan hệ xã hội nảy sinh trong lĩnh vực quản lý người nước ngoài, nhằm tạo ra một trật tự pháp luật trong lĩnh vực này. Cơ chế này vận hành thông qua hệ thống các phương tiện pháp lý: quy phạm pháp luật, quyết định áp dụng pháp luật cá biệt, quan hệ pháp luật và hành vi thực tế thực hiện quyền, nghĩa vụ pháp lý.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án tiếp cận theo hướng định tính, kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học:

  • Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mác - Lênin.
  • Phương pháp phân tích thực tiễn: Xem xét thực trạng quản lý người nước ngoài, tình hình vi phạm pháp luật của người nước ngoài và công tác xử lý của các cơ quan chức năng.
  • Phương pháp phân tích quy phạm: Đánh giá các quy định của Hiến pháp, luật, pháp lệnh, nghị định điều chỉnh hoạt động của người nước ngoài.
  • Phương pháp so sánh, tổng hợp, thống kê: Tập hợp, đối chiếu các số liệu thực tế về xuất nhập cảnh, cư trú và các mô hình điều chỉnh pháp luật.
  • Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Rút ra bài học từ thực tiễn công tác quản lý của ngành Công an qua các thời kỳ.
  • Phương pháp xã hội học pháp luật: Xem xét sự tác động qua lại giữa các quy phạm pháp luật với các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình mở cửa.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Các văn bản pháp luật của Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1996: các Sắc lệnh số 47/SL, 53/SL, 73/SL, 215/SL; Quyết định 122/CP (1977); Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1980 và 1992; Luật Quốc tịch Việt Nam (1988); Pháp lệnh Nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú, đi lại của người nước ngoài tại Việt Nam (1992); Bộ luật Hình sự; Bộ luật Dân sự (1995); Luật Báo chí (1989); Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; các Nghị định số 04/CP, 12/CP, 17/CP (1992 - 1993)...
  • Điều ước quốc tế: Công ước New York (1954) về quy chế người không quốc tịch, Công ước Geneva (1954) về người tị nạn, các hiệp định tương trợ tư pháp, hiệp định miễn thị thực song phương và đa phương.
  • Số liệu thống kê của các cơ quan chức năng quản lý xuất nhập cảnh và an ninh trật tự thuộc Bộ Nội vụ tính đến giữa thập niên 1990.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Vai trò của cơ chế điều chỉnh pháp luật trong quản lý Nhà nước đối với người nước ngoài

Chương 1 tập trung xây dựng cơ sở lý luận về địa vị pháp lý của người nước ngoài, bản chất quản lý Nhà nước về an ninh quốc gia và vai trò của cơ chế điều chỉnh pháp luật.

Về địa vị pháp lý, luận án phân tích rằng địa vị pháp lý của người nước ngoài tại Việt Nam là tổng thể các quyền và nghĩa vụ được pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia quy định. Pháp luật Việt Nam áp dụng nguyên tắc chế độ đãi ngộ quốc dân làm cơ sở, đồng thời áp dụng chế độ đãi ngộ đặc biệt (ưu đãi, miễn trừ ngoại giao, lãnh sự) và chế độ tối huệ quốc (trong thương mại, hàng hải).

Tác giả thống kê cấu trúc thành phần người nước ngoài cư trú và hoạt động tại Việt Nam vào thời điểm nghiên cứu thông qua bảng số liệu sau:

Nhóm đối tượng người nước ngoài Số lượng thống kê Đặc điểm hoạt động
Cán bộ, nhân viên ngoại giao, lãnh sự Gần 900 người Công tác tại 48 Đại sứ quán và Tổng Lãnh sự quán
Thành viên tổ chức quốc tế và NGO Trên 200 người Hoạt động trong các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ
Nhân viên Văn phòng đại diện kinh tế Trên 3.000 người Làm việc tại hơn 2.000 VPĐD của 55 quốc gia
Giáo viên và lưu học sinh 687 người Giảng dạy, học tập tại các cơ sở đào tạo
Lao động tại liên doanh, dự án đầu tư Gần 5.000 người Hoạt động theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Tổng số người nước ngoài cư trú, làm việc Khoảng 14.000 người Cư trú thường trú hoặc tạm trú xác định
Khách lâm thời nhập, xuất cảnh Trên 1.000.000 lượt/năm Du lịch, khảo sát thị trường, thăm thân, quá cảnh

Luận án phân tích các quyền và nghĩa vụ cụ thể của người nước ngoài:

  • Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh: Điều chỉnh theo Pháp lệnh năm 1992 và Nghị định 04/CP. Quy định các loại thị thực, trường hợp miễn thị thực (quá cảnh dưới 72 giờ không ra khỏi khu vực quy định, trẻ em dưới 14 tuổi đi cùng hộ chiếu người đại diện).
  • Cư trú, đi lại: Phải đăng ký cư trú trong vòng 48 giờ sau khi nhập cảnh. Phân chia thường trú và tạm trú (chứng nhận tạm trú không quá 1 năm, gia hạn mỗi lần không quá 12 tháng). Nghiêm cấm cư trú, đi lại tại vành đai biên giới, khu quân sự, khu công nghiệp quốc phòng.
  • Hành nghề: Được tự do lựa chọn nghề nghiệp theo quy định nhưng bị cấm làm một số nghề (ngư nghiệp, lâm nghiệp, sửa chữa máy thông tin, lái xe vận chuyển hàng hóa, in, khắc chữ, đúc dấu, công chứng viên, người đứng đầu cơ quan báo chí hoặc nhà báo).
  • Sở hữu, thừa kế, học tập, y tế, tố tụng: Không có quyền sở hữu ruộng đất; được sở hữu nhà ở khi đầu tư hoặc định cư dài hạn; được bảo hộ quyền thừa kế, quyền tác giả, phát minh sáng chế (Bộ luật Dân sự 1995); bình đẳng trong tố tụng dân sự theo Điều 83 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự 1989.

Về quản lý Nhà nước, luận án chỉ rõ ba đặc trưng cơ bản: (1) Hoạt động mang tính tổ chức và điều chỉnh bằng pháp luật ở mức độ cao; (2) Là hình thức quản lý đặc thù do chứa đựng yếu tố nước ngoài, liên quan đến chủ quyền và đối ngoại; (3) Có sự cách biệt rõ ràng về mặt xã hội giữa chủ thể quản lý (hệ thống cơ quan hành chính Nhà nước) và khách thể quản lý (người nước ngoài).

Sự phân công trách nhiệm quản lý được xác định rõ: Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm thống nhất quản lý chuyên ngành về nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú, đi lại và bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; Bộ Ngoại giao quản lý đối ngoại và giải quyết thủ tục cho đối tượng hưởng ưu đãi, miễn trừ ngoại giao, lãnh sự; các ngành, địa phương (cơ quan chủ quản) trực tiếp quản lý, đón tiếp và chịu trách nhiệm về nội dung hoạt động của khách do mình mời.

Quy trình quản lý của ngành Công an đối với người nước ngoài gồm 3 khâu liên tục:

  1. Quản lý nhập cảnh: Xét duyệt nhân sự và kiểm soát tại cửa khẩu nhằm phát hiện đối tượng cấm nhập cảnh, vi phạm giấy tờ.
  2. Quản lý cư trú: Quản lý tạm trú và thường trú, giám sát địa bàn, hướng dẫn hoạt động đúng mục đích, ngăn chặn hoạt động ngoài chương trình.
  3. Quản lý xuất cảnh: Xét cấp phép xuất cảnh cho ngoại kiều, gia hạn/bổ sung thị thực, kiểm soát cửa khẩu và đối chiếu danh sách nhập - xuất để xác định số lượng tồn đọng, xử lý quá hạn.

Chương 2. Thực trạng pháp luật trong quản lý Nhà nước đối với người nước ngoài

Chương 2 trình bày tiến trình lịch sử xây dựng pháp luật quản lý người nước ngoài từ năm 1945 và đánh giá thực trạng công tác quản lý của Bộ Nội vụ.

Vài nét lịch sử:

  • Giai đoạn 1945 - 1954: Sau Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 47/SL (10/10/1945) tạm thời giữ lại luật lệ cũ không trái chính thể cộng hòa. Để giải quyết các yêu cầu cấp bách, Nhà nước ban hành Sắc lệnh 73/SL (07/12/1945) quy định người nước ngoài nhập quốc tịch Việt Nam và Sắc lệnh 215/SL (20/8/1948) quy định quyền lợi đặc biệt của người nước ngoài có công trong kháng chiến.
  • Các giai đoạn tiếp theo (sau 1954, sau 1975 và thời kỳ Đổi mới từ 1986): Hệ thống pháp luật từng bước được bổ sung, đáng chú ý là Quyết định 122/CP (1977), Luật Quốc tịch (1988), Pháp lệnh Nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú, đi lại của người nước ngoài (1992) và Nghị định 17/CP (1993).

Thực trạng bộ máy và công tác quản lý của Bộ Nội vụ:

  • Hệ thống cơ quan quản lý chuyên trách gồm: Cục Quản lý xuất nhập cảnh (A18) ở cấp Trung ương; các Phòng Quản lý xuất nhập cảnh (PA18) thuộc Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; lực lượng Biên phòng phối hợp tại các cửa khẩu; Công an phường, xã kiểm tra khai báo tạm trú, tạm vắng ở cơ sở.
  • Đánh giá thực trạng vi phạm pháp luật: Tình hình người nước ngoài vi phạm pháp luật diễn biến phức tạp. Phổ biến là các hành vi: sử dụng hộ chiếu giả, giấy tờ giả, nhập cảnh trái phép để trốn sang nước thứ ba; nhập cảnh với lý do du lịch nhưng hoạt động tôn giáo trái phép hoặc môi giới làm ăn kinh tế; đi sai tuyến du lịch đăng ký; hoạt động kinh doanh trốn thuế, lừa đảo, vi phạm pháp luật lao động; gây tai nạn giao thông, xâm phạm trật tự công cộng. Công tác phát hiện, điều tra, xử lý hành chính (phạt tiền, trục xuất) và hình sự gặp nhiều vướng mắc do thiếu các quy định hướng dẫn chi tiết và sự bất cập trong phối hợp liên ngành.

Chương 3. Phương hướng đổi mới và hoàn thiện pháp luật trong quản lý Nhà nước đối với người nước ngoài

Chương 3 đề xuất định hướng và giải pháp hoàn thiện thể chế pháp luật và bộ máy quản lý:

Quan điểm chỉ đạo:

  • Thể chế hóa đầy đủ đường lối, chủ trương đối ngoại mở rộng của Đảng, bảo đảm vừa tạo điều kiện thông thoáng cho hợp tác quốc tế, vừa giữ vững độc lập, chủ quyền và an ninh quốc gia.
  • Bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, minh bạch của hệ thống pháp luật, khắc phục triệt để tình trạng quy định tản mạn, mâu thuẫn, chồng chéo.
  • Hoàn thiện bộ máy quản lý theo hướng phân định rõ chức năng chuyên ngành và trách nhiệm của cơ quan chủ quản; nâng cao năng lực của hệ thống cơ quan tài phán trong giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm có yếu tố nước ngoài.

Phương hướng cụ thể:

  • Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật: Bổ sung, sửa đổi các quy định về xuất nhập cảnh, quá cảnh, cư trú, đi lại; hoàn thiện các quy định về lao động, thuế, chuyển giao công nghệ liên quan đến người nước ngoài; cụ thể hóa các chế tài xử lý vi phạm hành chính, tư pháp đối với các hành vi xâm phạm trật tự quản lý hành chính và an ninh quốc gia.
  • Đổi mới cơ chế tài phán: Tăng cường thẩm quyền, quy trình xét xử của Tòa án nhân dân và thủ tục tố tụng đối với các vụ việc có yếu tố nước ngoài, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của đương sự theo các điều ước quốc tế.
  • Đổi mới bộ máy và cơ chế quản lý: Kiện toàn mô hình tổ chức của Cục Quản lý xuất nhập cảnh (A18) và các phòng nghiệp vụ địa phương (PA18); thiết lập quy chế phối hợp chặt chẽ, chia sẻ thông tin giữa Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao, Hải quan, Biên phòng và các bộ ngành kinh tế; chấn chỉnh khâu quản lý các đoàn ra, đoàn vào và hoạt động du lịch.
  • Xây dựng đội ngũ cán bộ: Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công an chuyên trách quản lý người nước ngoài có phẩm chất chính trị vững vàng, nắm vững pháp luật Việt Nam, luật pháp quốc tế, tinh thông nghiệp vụ và ngoại ngữ.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Vận dụng lý luận Mác - Lênin về Nhà nước và pháp luật để luận giải sâu sắc nội hàm khái niệm quản lý Nhà nước về an ninh quốc gia; xác định rõ mối quan hệ giữa an ninh chính trị (yếu tố chi phối) với an ninh kinh tế, văn hóa - tư tưởng, xã hội.
  • Xây dựng định nghĩa khoa học về "cơ chế điều chỉnh pháp luật trong quản lý Nhà nước đối với người nước ngoài", xác định các phương tiện pháp lý đặc thù và các khâu vận hành của cơ chế này trong điều kiện đổi mới và mở cửa.
  • Làm rõ cấu trúc địa vị pháp lý của người nước ngoài tại Việt Nam trên cơ sở tiếp cận nghĩa rộng (tự nhiên nhân không có quốc tịch Việt Nam), phân định rõ các nhóm đối tượng và các chế độ pháp lý áp dụng (đãi ngộ quốc dân, đãi ngộ đặc biệt, tối huệ quốc).

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Tổng kết có hệ thống tiến trình lịch sử lập pháp về người nước ngoài từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến giai đoạn 1996, chỉ rõ tính kế thừa và những đặc điểm gắn với từng giai đoạn lịch sử.
  • Đánh giá thực trạng bộ máy quản lý chuyên ngành của Bộ Nội vụ từ Trung ương đến địa phương (mô hình A18 và PA18); nhận diện các sơ hở, thiếu sót trong quản lý xuất nhập cảnh, cư trú và chỉ ra các phương thức vi phạm pháp luật phổ biến của người nước ngoài.
  • Đề xuất hệ thống quan điểm, nguyên tắc và giải pháp có tính khả thi nhằm đổi mới, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành, đổi mới cơ chế tài phán và xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách đáp ứng yêu cầu hội nhập.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu ở cơ chế quản lý Nhà nước đối với người nước ngoài thuộc chức năng, nhiệm vụ của ngành Công an (Bộ Nội vụ), chủ yếu tập trung vào các khâu xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú và đi lại. Các mảng quản lý chuyên ngành khác như hải quan, thuế, ngoại hối, hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài, tranh chấp thương mại quốc tế hay giải quyết quyền lợi lao động chưa được đi sâu phân tích toàn diện.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục nghiên cứu cơ chế điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ kinh tế, tài chính, lao động mới phát sinh có yếu tố nước ngoài; nghiên cứu chuyên sâu về hoàn thiện cơ chế tài phán và tố tụng tư pháp quốc tế tại Tòa án nhân dân trong bối cảnh Việt Nam mở rộng ký kết các hiệp định thương mại song phương và đa phương.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Cung cấp tài liệu hệ thống hóa lý luận về Lý luận Nhà nước và pháp quyền, Luật Hành chính, Luật Quốc tế và Tư pháp quốc tế; làm rõ phương pháp tiếp cận cơ chế điều chỉnh pháp luật trong một lĩnh vực hành chính - an ninh đặc thù.
  • Đối với cán bộ quản lý, thực thi pháp luật ngành Công an: Cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện quy trình nghiệp vụ 3 khâu (quản lý nhập cảnh, quản lý cư trú, quản lý xuất cảnh); nhận diện phương thức, thủ đoạn vi phạm pháp luật để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn.
  • Đối với cơ quan lập pháp và cơ quan tham mưu chính sách: Cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn phục vụ việc sửa đổi, xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về xuất nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài, các quy chế quản lý đoàn vào, đoàn ra và bảo đảm an ninh trật tự trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Câu hỏi thường gặp

Luận án định nghĩa "người nước ngoài" như thế nào?

Theo luận án, người nước ngoài được hiểu theo nghĩa rộng: là tự nhiên nhân không có quốc tịch Việt Nam, bao gồm người có quốc tịch nước ngoài (được chứng minh bằng hộ chiếu còn giá trị) và người không có quốc tịch (không có hộ chiếu hoặc hộ chiếu hết hạn mà không được nước nào cấp lại). Khái niệm này chỉ giới hạn ở cá nhân (thể nhân), không bao gồm pháp nhân hay Nhà nước nước ngoài.

Quy mô người nước ngoài cư trú và nhập cảnh tại Việt Nam được ghi nhận trong luận án là bao nhiêu?

Theo số liệu thống kê của cơ quan chức năng được luận án trích dẫn, tại thời điểm nghiên cứu có khoảng 14.000 người nước ngoài cư trú, làm ăn, sinh sống tại Việt Nam (gần 900 nhân viên ngoại giao, lãnh sự; trên 200 người thuộc tổ chức quốc tế/NGO; trên 3.000 người thuộc hơn 2.000 VPĐD kinh tế; 687 giáo viên, lưu học sinh; gần 5.000 người làm việc trong các dự án đầu tư liên doanh). Ngoài ra, trung bình mỗi năm có trên 1 triệu lượt người nước ngoài nhập, xuất cảnh lâm thời.

Cơ quan nào giữ vai trò quản lý chuyên ngành về xuất nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài?

Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) là cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành về nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú, đi lại của người nước ngoài. Bộ Nội vụ giao Cục Quản lý xuất nhập cảnh (A18) làm đơn vị chuyên trách ở cấp Trung ương, phối hợp với các Phòng Quản lý xuất nhập cảnh (PA18) thuộc Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, lực lượng Biên phòng tại cửa khẩu và Công an phường, xã ở cơ sở.

Quy trình quản lý người nước ngoài của ngành Công an gồm những khâu nào?

Quy trình quản lý là một chuỗi liên tục gồm 3 giai đoạn:

  1. Quản lý nhập cảnh (xét duyệt cấp phép và kiểm soát tại cửa khẩu).
  2. Quản lý cư trú (quản lý tạm trú và thường trú, giám sát địa bàn và hoạt động theo chương trình đăng ký).
  3. Quản lý xuất cảnh (xét duyệt cho phép xuất cảnh, gia hạn/bổ sung thị thực, kiểm soát cửa khẩu và đối chiếu số liệu nhập - xuất).

Những hành vi vi phạm pháp luật phổ biến của người nước ngoài được chỉ ra trong luận án là gì?

Các hành vi vi phạm chủ yếu gồm: sử dụng hộ chiếu giả, giấy tờ giả để nhập cảnh hoặc trung chuyển sang nước thứ ba; nhập cảnh du lịch nhưng hoạt động tôn giáo trái phép, hoạt động môi giới kinh tế; đi sai tuyến đường du lịch đăng ký; ở quá hạn tạm trú; hoạt động lừa đảo, trốn thuế; gây rối trật tự công cộng và vi phạm pháp luật an toàn giao thông.


Kết luận

Luận án "Đổi mới và hoàn thiện pháp luật trong quản lý Nhà nước đối với người nước ngoài ở nước ta hiện nay" của tác giả Bùi Quang Bề là công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống đầu tiên về cơ chế điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực quản lý người nước ngoài tại Việt Nam. Bằng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp phân tích quy phạm và tổng kết thực tiễn, luận án đã làm rõ cơ sở lý luận về an ninh quốc gia, địa vị pháp lý của người nước ngoài và vai trò của pháp luật trong quản lý hành chính. Công trình đã phản ánh sát thực bức tranh thực trạng quản lý xuất nhập cảnh của ngành Công an giữa thập niên 1990, đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ từ hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật, kiện toàn bộ máy tổ chức đến nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ chuyên trách, đóng góp thiết thực cho công tác lập pháp và bảo vệ an ninh trật tự trong thời kỳ mở cửa hội nhập.