Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động thanh tra của Ngân hàng Trung ương đối với các Tổ chức tín dụng. Chương 2: Thực trạng hoạt động Thanh tra đối với các tổ chức tín dụng tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh Thanh Hóa. Chương 3: Giải pháp đổi mới hoạt động thanh tra của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Thanh Hóa đối với các Tổ chức tín dụng trên địa bàn. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 1.
TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 1. Khái niệm thanh tra ngân hàng 1. Khái niệm về thanh tra Thanh tra (inspect) xuất phát từ gốc La tinh (inspectorate) có nghĩa là “nhìn vào bên trong”, chỉ một sự kiểm tra, xem xét từ bên ngoài đối với hoạt động của một số đối tượng nhất định. Theo từ điển pháp luật Anh-Việt, thanh tra “là sự kiểm soát, kiểm kê đối với đối tượng bị thanh tra”.
Từ điển luật học (tiếng Đức) giải thích thanh tra “là sự tác động của chủ thể đến đối tượng đã và đang thực hiện thẩm quyền được giao nhằm đạt được mục đích nhất định – sự tác động có tính trực thuộc”. Theo từ điển tiếng Việt: “Thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp”. Với nghĩa này, thanh tra bao hàm nghĩa kiểm soát nhằm: “xem xét và phát hiện ngăn chặn những gì trái với quy định”. Trong Pháp lệnh Thanh tra năm 1990, thanh tra được xác định là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nước.
Điều 8, Pháp lệnh thanh tra năm 1990 quy định: “Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch nhà nước của các cơ quan, tổ chức và cá nhân, trừ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan Điều tra, Kiểm sát, Tòa án và việc giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế, xử lý vi phạm hợp đồng kinh tế của cơ quan trọng tài kinh tế.” Luật Thanh tra năm 2010 quy định: “Hoạt động thanh tra nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và 7 xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân”. Từ những phân tích trên có thể khái quát khái niệm thanh tra như sau: Thanh tra là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nước, là hoạt động tự kiểm tra, xem xét của các cơ quan hành chính nhà nước, được thực hiện bởi chủ thể quản lý có thẩm quyền, nhằm đánh giá ưu khuyết điểm, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý các vi phạm, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân. Khái niệm thanh tra ngân hàng Cũng như các ngành, lĩnh vực khác, bất kỳ một hoạt động quản lý nào, để đảm bảo cho những mục tiêu đạt được kết quả cao, nhất thiết phải tiến hành công tác thanh tra, kiểm tra. Mục đích hoạt động thanh tra, kiểm tra nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Luật thanh tra số 56/2010/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 15/11/2010 quy định: “Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó.” 8 Trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng, các tổ chức tín dụng và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hoạt động có những đặc thù riêng, là lĩnh vực kinh tế hết sức nhạy cảm tác động vào tăng trưởng và ổn định kinh tế … Đặc biệt khi chuyển sang giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế ngành ngân hàng, hệ thống các TCTD có bước phát triển rất nhanh về quy mô và phạm vi hoạt động. Vì vậy, rủi ro đối với các TCTD trở nên đa dạng hơn. Hoạt động ngân hàng luôn gắn liền với rủi ro và chấp nhận rủi ro, rủi ro cao lợi nhuận cao, rủi ro thấp lợi nhuận thấp, thậm chí lợi nhuận thấp TCTD vẫn có nguy cơ vấp phải rủi ro cao do quản trị rủi ro kém. Rủi ro trong hoạt động luôn là mối đe dọa đến sự an toàn và phát triển bền vững của hệ thống các TCTD.
Vì vậy, NHNN thực hiện thanh tra chuyên ngành về lĩnh vực ngân hàng. Cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng là đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của NHNN, thực hiện nhiệm vụ thanh tra giám sát ngân hàng; phòng, chống rửa tiền. Thủ tướng Chính phủ quy định cụ thể về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng. Thống đốc NHNN quy định trình tự, thủ tục thanh tra, giám sát ngân hàng.
Mục đích, đối tƣợng, nguyên tắc thanh tra ngân hàng 1. Mục đích thanh tra ngân hàng Thanh tra ngân hàng nhằm góp phần bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hệ thống các TCTD và hệ thống tài chính; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền và khách hàng của TCTD; duy trì và nâng cao lòng tin của công chúng đối với hệ thống các TCTD; bảo đảm việc chấp hành chính sách, pháp luật về tiền tệ và Ngân hàng; góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng. Thứ nhất, đảm bảo an toàn hệ thống tổ chức tín dụng: Hoạt động Ngân hàng có tính hệ thống, “phản ứng dây truyền”. Sự phá sản của bất kỳ một 9 ngân hàng nào cũng có thể gây đổ vỡ dây chuyền đến toàn hệ thống tài chính, ngân hàng.
Thanh tra Ngân hàng là xem xét tác động và những yếu tố ảnh hưởng đến tính ổn định và phát triển của hệ thống Ngân hàng mà cụ thể là nhận biết rủi ro, mức độ rủi ro trên cơ sở đó có biện pháp ngăn chặn hữu hiệu. Thứ hai, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền: Đặc điểm kinh doanh truyền thống của các Ngân hàng Việt Nam là huy động tiền gửi từ các cá nhân, tổ chức để cho các thành phần kinh tế có nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, phục vụ đời sống vay đảm bảo các điều kiện vay vốn quy định. Thanh tra ngân hàng là công cụ quản lý của Nhà nước về lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng. Kinh doanh ngân hàng luôn là một hoạt động chứa đựng rất nhiều rủi ro.
Bất kỳ một lý do hay một nguyên nhân không tốt liên quan đến hoạt động ngân hàng, thì lập tức nó sẽ lây lan nhanh chóng trên toàn hệ thống, gây hoang mang cho khách hàng tiền gửi. Đối với khách hàng tiền gửi, khi mất lòng tin họ sẽ không gửi thậm chí đến rút tiền hàng loạt, có thể làm ngân hàng mất khả năng thanh khoản, gây ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng cũng như ảnh hưởng của nền kinh tế. Chính vì vậy, việc bảo đảm quyền và lợi ích của người gửi tiền cũng chính là mục đích hoạt động của thanh tra giám sát ngân hàng. Thứ ba, góp phần thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia:Thanh tra ngân hàng là một công cụ quản lý Nhà nước của Ngân hàng Nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng.
Thông qua hoạt động của mình, Thanh tra, giám sát ngân hàng thực hiện việc giám sát thường xuyên và tiến hành các cuộc thanh tra trực tiếp đối với các tổ chức tín dụng, nhằm phát hiện, ngăn chặn các vi phạm, kiến nghị các biện pháp bảo đảm thi hành pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng. Đối tượng thanh tra ngân hàng 10 NHNN thanh tra các đối tượng sau: (i) Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của TCTD nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng. Trong trường hợp cần thiết, NHNN yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền thanh tra hoặc phối hợp thanh tra công ty con, công ty liên kết của TCTD; (ii) Tổ chức có hoạt động ngoại hối, hoạt động kinh doanh vàng; tổ chức hoạt động thông tin tín dụng; tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán không phải là ngân hàng; (iii) Cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam và cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về tiền tệ và ngân hàng thuộc phạm vi quản lý nhà nước của NHNN. Nguyên tắc hoạt động thanh tra ngân hàng Thanh tra, giám sát ngân hàng phải tuân thủ theo pháp luật; bảo đảm chính xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ, kịp thời; không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra, giám sát ngân hàng.
Kết hợp thanh tra, giám sát việc chấp hành chính sách, pháp luật về tiền tệ và ngân hàng với thanh tra, giám sát rủi ro trong hoạt động của đối tượng thanh tra, giám sát ngân hàng. Thanh tra, giám sát ngân hàng được thực hiện theo nguyên tắc thanh tra, giám sát toàn bộ hoạt động của TCTD. Thứ nhất, hoạt động của Thanh tra, giám sát ngân hàng phải tuân thủ theo pháp luật: thực hiện thanh tra đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật, thực hiện thanh tra đúng theo nội dung, thời gian, trình tự, thủ tục; không được làm trái pháp luật, can thiệp trái pháp luật; chịu trách nhiệm trước pháp luật trong hoạt động thanh tra.