mở đầu cho làn sóng tiếp thu văn minh Trung Hoa của người Nhật Bản. Hết đợt này đến đợt khác, Nhật Bản mời rất nhiều người Trung Hoa và Triều Tiên có khả năng về văn tự và kỹ thuật sang Nhật để giảng dạy cho họ. Những người này được gọi là K ik a jin (Quy hoá nhân), nghĩa là “những người mang văn hoá đến”. Các Quy hoá nhân người Trung H oa san g n h iều hơn cả vào thời T h iên hoàng Ojin (ứ n g T hần)[P L ,1.45], khoảng thế kỷ thứ IV.
Họ hướng dẫn người Nhật cách nuôi tằm, dệt vải, viết thảo công văn giấy tờ ở triều đình. Trong các thế kỷ V I -V I I , Quy hóa nhân chủ yếu là các nhà kỹ thuật, nhà văn hoá hoặc vương tộc của thị tộc Hàn (Triều Tiên). 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com V iệ c mang đến những yếu tố văn minh tiêu biểu của đại lục đã góp phần to lớn cho sự phát triển của Nhật Bản. Đặc biệt, việc truyền bá chữ Hán có ý nghĩa cực kỳ quan trọng.
Theo những ghi chép trong hai bộ sách cổ của Nhật Bản là Koịiki (Cổ sự ký, 712) và Nikon Shoki (Nhật Bản Thư kỷ, 720), người đầu tiên truyền chữ Hán đến Nhật Bản là Wani (Vương nhân). Wani từ Bách Tế đến Nhật vào năm 285 theo yêu cầu của Thiên hoàng Ojin. ồng mang theo bộ sách Luận ngữ gồm 10 quyển và một quyển Thiên tự văn. Mặc dù chưa thể khẳng định độ chính xác của sự kiện này nhưng qua đó cũng cho thấy Nho giáo đã được truyền sang Nhật Bản khá sớm cùng với chữ Hán.
Chữ Hán trở thành phương tiện chuyển tải tri thức của Trung Hoa sang Nhật Bản. Bên cạnh việc truyền bá chữ Hán, Nho giáo và Phật giáo cũng lần lượt được du n h ậ p vào N h ật Bản. So với P hật giáo thì N ho g iáo tru y ền bá vào Nhật Bản sớm hơn nhưng lại phổ cập chậm hơn vì mấy thế kỷ đầu Nho giáo chỉ hạn chế trong giới thượng lưu. Một mặt do tiếng Hán đơn âm nhưng tiếng Nhật lại đa âm nên người Nhật rất khó tiếp thu.
Hơn nữa, chỉ những gia đình có thế lực, giàu có mới đón được thầy về dạy cho con cháu mình. Mặt khác, số học giả uyên bác kinh sử từ lục địa sang chỉ đủ cho nhu cầu của triều đình. Còn thầy đồ, thầy cúng chủ yếu làm việc trong các sia đình quan lại, chùa chiền nên dân nghèo không có điều kiện học hành, tiếp thu Nho học. Trong khi đó Phật giáo truyền bá sang Nhật từ năm 538 lại nhanh chóng được phổ biến trong nhân dân.
V iệc du nhập Phật giáo đã tạo ra môi trường thuận lợi cho Nhật Bản tiếp thu văn minh Trung Hoa. Thái tử nhiếp chính Shotoku (Thánh Đức, 574-622) là người nhận thấy điều này hon ai hết. Hơn nữa, ông cho rằng việc học tập văn minh Trung Hoa không chỉ trông chờ vào các Q uy hoá nhân, mà Nhật Bản phải đưa người sang trực tiếp học tập, mắt thấy tai nghe. Vì vậy, từ thời đại của Thái tử Shotoku, Nhật Bản đã bắt đầu chương trình gửi học sinh đi du học một cách có tổ chức.
Đã có ba đoàn được cử đi dưới thời ông nhiếp chính. Chuyến đi đầu tiên khởi hành vào năm 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 607 do học giả Onono Imoko (Tiểu Dã Chu tử) đứng đầu, gồm nhiểu lưu học sinh và hoà thượng Phật giáo. Trong số đó có 3 người lưu lại Trung Hoa hơn 30 năm sau mới về nước. Đó là lưu học sinh Takamuko N ogenri, hai hoà thượng M inabuchino Shiyoan và Min.
Sau khi về nước, M in và T akam uko được triều đình phong kuninohakase (quốc bác sĩ) - một chức cố vấn chính trị trong triều - để giúp triều đình tiến hành cải cách [PL,1. Còn Minabuchi đảm nhận việc dạy những kiến thức về Chu H y cho hoàng tử Nakano Ooe (Trung Đ ại Huynh) và Nakatomi Kam atari (Trung Thần Liêm Túc). Nhưng Thái tử Shotoku chưa đi hết được con đường cải cách khi ông mất vào tuổi 49. Vị Thiên hoàng mới Kotoku lên ngôi năm 645 đã tiếp tục sự nghiệp mà Thái tử Shotoku còn đang dang dở.
Sau khi lên ngôi, Kotoku đặt niên hiệu cho mình là Taika (Đại Hoá). Đây là lần đầu tiên Thiên hoàng Nhật Bản bắt chước Trung Quốc đặt niên hiệu. Ông tiếp tục tiến hành những cải cách mới mà sau này người ta gọi là “C ả i cách T a ỉ k a Đ ây chính là cao trào học tập văn minh Trung Hoa mà kết quả đã đưa nước Nhật đến một giai đoạn phát triển mới. Trong giai đoạn này Nhật Bản liên tục gửi phái đoàn chính thức sang Trung Hoa học tập.
Thành phần những người sang du học cũng rất phong phú. Ngoài chánh phó sứ còn có phán quan, thư ký, giáo viên, học sinh, nghệ sĩ, thợ thủ công và tăng ni Phật giáo. Tính từ năm 630 đến 894 đã có 15 đoàn tới Trung Quốc. Mỗi đoàn khoảng 100-250 người.
Trong điều kiện lúc bấy giờ, đó là những con số đáng khâm phục. Mặc dù việc học tập Trung Hoa chưa phải đã hoàn toàn mãn nguyện, nhưng thành công lớn nhất là việc thúc đẩy nền giáo dục của Nhật Bản phát triển. Trên đà của công cuộc cải cách lần đầu tiên, Thiên hoàng T en ji (Thiên Trí, 625-671) đặt ra chức Quan học đảm nhận việc đôn đốc giáo dục trong cả nước. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhưng kể từ khi Thiên hoàng Monmu (Văn V ũ , 683-707) ban hành Taihoritsuryo (Đại Bảo luật lệnh) [PL,1.6] vào năm 701 mới đánh dấu hệ thống giáo dục Nhật Bản bước sang giai đoạn có tổ chức.
Gakurei (Học lệnh ) nằm trong hệ thống Đ ạ i Bảo Luật Lệnh bao gồm 22 chương. Mặc dù chịu ảnh hưởng nhiều của chế độ giáo dục Trung Quốc lũc bấy giờ, nhưng nó vẫn là cơ sở để xây dựng nền giáo dục có tổ chức của Nhật Bản. Kể từ lúc này việc học tập được đẩy mạnh hơn bao giờ hết. Những người làm nghề dạy học (mochi noshi) xếp vào 1 trong 8 giới thượng lưu được ưu đãi theo Yakusa no sho (Bát sắc chi tính) ban hành năm 684.
Theo đó, thầy đồ được dùng từ Đạo sư để làm Họ cho mình, và được miễn toàn bộ tô, điều, dung, dịch. H ọ c lệnh đặt ra chế độ Daigaku - Kokugaku (Đại học - Quốc học). Hệ thống giáo dục được chia thành 2 cấp giống như giáo dục của Trung Quốc thời cổ đại là tiểu học và đại học. Theo đó, 1 trường đại học đã được thành lập ở kinh đô có nhiệm vụ chủ yếu là giảng dạy và nghiên cứu Tứ thư, Ngũ kinh.
Đến thời kỳ H eian (đầu thế kỷ IX ) trường có tất cả 4 khoa: M inh kinh (Triết học Trung Quốc), K ỷ truyền (Lịch sử), M inh pháp (Pháp luật) và Toán. Học sinh tất cả đều là con trai tuổi 13 đến 16, xuất thân từ các gia đình hoàng thân quốc thích, giới quý tộc và một số thuộc gia đình học giả có nhiều cống hiến cho đất nước. Ngoài 4 khoa đại học còn có 2 khoa tiểu học là khoa Toán và Tập viết dành cho những học sinh nhỏ hon. Quốc học là trường công ở các tỉnh.
Trong thời Nara cứ 3-4 tỉnh đặt 1 trường. Nhưng từ cuối thời Nara đến thời Heian, mỗi tỉnh lập 1 trường quốc học. Vào lúc này Nhật Bản chia thành nhiều Đ ạo. M ỗi Đ ạ o gồm nhiều Quốc (tương đương đơn v ị tỉnh của V iệ t Nam) nên trường cấp tỉnh được sọi là Quốc học.
Những học sinh quốc học sau khi trải qua một kỳ thi có thể đỗ vào đ ạ i h ọ c ở k in h đô. Có thể nói rằng, nếu thế kỷ VIII là thế kỷ mở ra bước ngoặt cho lịch sử giáo dục Nhật Bản thì thế kỷ IX như một sự bùng nổ của giáo dục. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong thế kỷ IX , lần đầu tiên, Khổng siáo chính thức được ghi vào chương trình học. Đồng thời một số môn của Phật giáo cũng được đưa vào giảng dạy.
Sau khi triều đình chuyển về Heian (794), một trường đại học mới đứợc xây dựng tại kinh đô. Giới quý tộc cũng đua nhau mở trường riêng cho dòng họ mình, để con cháu có điều kiện học nhiều hơn. Tất nhiên các trường này cũng phải là những cơ sở giáo dục đạt tới trình độ kiến thức của Đại học, Kinh, Thư, sử, Truyện và từ, phú, thơ, ca theo âm luật của Hán văn. Bước sang thế kỷ X-XII, Nhật Bản vẫn coi trọng việc học và những người có học vấn cao bất kể thuộc tầng lớp nào.
Thái độ này được Thái thượng hoàng S h ữ ak aw a (1 158 - 1192) thể hiện rõ ràng. Ô ng k h ô n g đưa lên chức vụ cao những người ít học. Nhà nghiên cứu Nhật Bản nổi tiếng người M ỹ George Sansom cho rằng tình hình này khác với Châu Âu. Vào lũc đó, ở Châu Âu việc học chỉ dành cho giới tăng lữ.
Một thường dân nào có học vấn uyên bác thì đó là chuyện lạ và coi như ngoại lệ [137, tr. Cùng trong thời gian này, xã hội Nhật Bản có nhiều biến đổi. Do việc tư nhân hoá ruộng đất từ cuối thời cải cách Taika đã dẫn tới việc hình thành cắc Shoen (trang viên). Trang viên được tổ chức như một đơn vị kinh tế xã hội khép kín và dần dần trở thành đơn vị hành chính mà chính quyền trung ương không kiểm soát nổi.
Mặt khác, giữa họ lại luôn tìm cách thôn tính lẫn nhau. V ì vậy các chủ đất phải tự lập ra nhóm vũ trang để bảo vệ đất đai và tính mạng cho gia đình. Trên cơ sở đó các nhóm võ sĩ chuyên nghiệp xuất hiện vào đầu thế kỷ thứ X. Lực lượng bảo vệ tại thủ đô được gọi là Sam urai (thị), nghĩa là những người tôi tớ sang trọng.
Sau này, Samurai được phổ thông hoá, đồng nghĩa với từ võ sĩ. Năm 118 5 phía dòng họ Minamoto (Nguyên thị) giành thắng lợi sau một thời gian chiến tranh kéo dài, mở ra một giai đoạn mới cho lịch sử Nhật Bản: võ sĩ trở thành lực lượng lãnh đạo đất nước trong gần 7 thế kỷ liên tục, để lại những dấu ấn vô cùng đậm nét trên tất cả các lĩnh vực. Đ ây cũng là thời kỳ Nhật Bản có hai chính quyền song song tồn tại: chính quyền của giai cấp võ sĩ 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.