Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ lịch sử của nghiên cứu sinh Đặng Xuân Kháng với đề tài "Cải cách giáo dục và những tác động chủ yếu đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Nhật Bản (Từ Minh Trị Duy tân đến thời kỳ sau Chiến tranh thế giới thứ hai)" được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Vũ Dương Ninh tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội (bảo vệ năm 2003, chuyên ngành Lịch sử Cận đại và Hiện đại, mã số 5.04).

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ hiện tượng phát triển kinh tế của Nhật Bản: từ một quốc gia phong kiến dựa vào nông nghiệp, bị đe dọa bởi chủ nghĩa thực dân phương Tây vào giữa thế kỷ XIX, Nhật Bản đã tiến hành cuộc Duy tân Minh Trị năm 1868 với khẩu hiệu "học tập phương Tây, đuổi kịp phương Tây, đi vượt phương Tây". Đúng 100 năm sau, vào năm 1968, Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) của Nhật Bản đã vượt Cộng hòa Liên bang Đức để vươn lên đứng thứ hai trong thế giới tư bản, sau Hoa Kỳ. Sau thất bại nặng nề tại Chiến tranh thế giới thứ hai (tháng 8/1945), Nhật Bản tiếp tục phục hồi và tăng trưởng nhanh chóng. Các nhà nghiên cứu quốc tế khi phân tích nguyên nhân thành công của Nhật Bản từ nhiều góc độ (kinh tế, chính trị, xã hội học) đều thống nhất nhận định giáo dục là một nhân tố cấu thành quan trọng. Việc nghiên cứu hai cuộc cải cách giáo dục mang tính bước ngoặt (thời Minh Trị và sau năm 1945) giúp làm rõ những nhân tố tác động trực tiếp đến sự chuyển biến kinh tế - xã hội của Nhật Bản, đồng thời cung cấp bài học kinh nghiệm cho công cuộc đổi mới giáo dục và công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại Việt Nam.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: tại Việt Nam thời điểm đó, các công trình nghiên cứu về giáo dục Nhật Bản còn tương đối tản mạn, chủ yếu là các bài viết khái quát hoặc chỉ tập trung vào một giai đoạn ngắn (như giai đoạn 1945–1951 hay 1951–1973), chưa có công trình lịch sử nào tái hiện và phân tích một cách hệ thống, toàn diện tiến trình của cả hai cuộc cải cách giáo dục quy mô lớn nhất cùng các tác động kinh tế - xã hội xuyên suốt từ năm 1868 đến thời kỳ hậu chiến.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm ba nội dung chính:

  1. Tập hợp và hệ thống hóa các nguồn tư liệu, sự kiện và số liệu lịch sử về quá trình cải cách giáo dục Nhật Bản từ thời Minh Trị Duy tân đến sau Chiến tranh thế giới thứ hai.
  2. Phân tích bối cảnh lịch sử, nguyên tắc chỉ đạo, mục tiêu, nội dung cụ thể của hai cuộc cải cách giáo dục lớn: cuộc cải cách thời kỳ Minh Trị (1868–1912) và cuộc cải cách giáo dục dân chủ hóa sau năm 1945 (trọng tâm là thời kỳ chiếm đóng 1945–1952).
  3. Đánh giá những tác động chủ yếu của cải cách giáo dục đối với sự phát triển kinh tế và biến đổi cơ cấu xã hội Nhật Bản, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị tham khảo.

Đối tượng nghiên cứu: Đường lối, chính sách, hệ thống thể chế, nội dung cải cách giáo dục của chính quyền Nhật Bản và những tác động kinh tế - xã hội tương ứng. Phạm vi nghiên cứu:

  • Không gian: Lãnh thổ Nhật Bản.
  • Thời gian: Trọng tâm từ năm 1868 (Minh Trị Duy tân) đến giai đoạn sau Chiến tranh thế giới thứ hai (chủ yếu là thời kỳ chiếm đóng của phe Đồng minh 1945–1952 và những năm phục hồi kinh tế tiếp theo). Cuộc cải cách giáo dục lần thứ ba chỉ được điểm xuyết ở phần liên hệ thực trạng hiện nay tại Chương 3.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo ba nhóm nguồn tư liệu chính:

Nhóm nghiên cứu của học giả phương Tây:

  • Giai đoạn sớm: Philipp Franz von Siebold (1796–1866) với các công trình khảo cứu đầu thế kỷ XIX như Nippon, Nhật Bản thực vật chí, Nhật Bản động vật chí.
  • Nghiên cứu hiện đại: Herbert Passin (Đại học Columbia, 1965) với tác phẩm Society and Education in Japan (bản dịch tiếng Nhật: Giáo dục và hiện đại hoá Nhật Bản), phân tích 7 chương về quá trình hiện đại hóa giáo dục từ thời Minh Trị và chỉ ra sự khác biệt giữa mô hình đào tạo tinh hoa trước 1945 và đại chúng hóa giáo dục bậc cao sau 1945; Richard Rubinger (Đại học Columbia, 1979) với công trình Shijuku nghiên cứu sâu về hệ thống tư thục thời Tokugawa; Ronald Dore (Đại học Michigan, 1984) với tác phẩm Giáo dục thời kỳ Edo; Benjamin Duke với cuốn The Japanese Schools - Lessons for Industrial America; Thomas P. Rohlen với The Japanese Secondary Schools khảo sát thực tiễn giáo dục trung học và áp lực thi cử; Robert C. Christopher với The Japanese Mind - The Goliath Explained (được NXB Thống kê dịch sang tiếng Việt năm 1995); Ezra F. Vogel với tác phẩm Japan as Number One: Lessons for America; Takafusa Nakamura và Bernard R. Grace với Phát triển kinh tế của nước Nhật hiện đại; Michio Morishima với Tại sao Nhật Bản thành công: Công nghệ phương Tây và tính cách Nhật Bản; Edwin O. Reischauer với Japan: The Story of a Nation.

Nhóm nghiên cứu của học giả và cơ quan chuyên môn Nhật Bản:

  • Bộ Giáo dục Nhật Bản cùng hai học giả Makoto Aso (Đại học Sư phạm Tokyo) và Ikuno Amano (Đại học Nagoya) công bố công trình chuyên khảo Giáo dục và vấn đề canh tân hoá tại Nhật Bản nhân kỷ niệm 100 năm Minh Trị Duy tân (1868–1968).
  • Giáo sư Kaigo Tokiomi (Đại học Tổng hợp Tokyo) với tác phẩm Nền giáo dục Nhật Bản (1868–1968).
  • Giáo sư Ikuno Amano (Đại học Tokyo) với hàng loạt chuyên khảo chuyên sâu: Giáo dục và thi tuyển (1982), Suy nghĩ về cải cách giáo dục (1985), Nguy cơ giáo dục (1987), Nghiên cứu giáo dục cao đẳng Nhật Bản hiện đại (1989), Bàn về trường chuyên nghiệp chế độ cũ (1993), Quan sát về giáo dục hiện nay (1993).

Nhóm nghiên cứu tại Việt Nam:

  • Tác phẩm tổng hợp xuất bản sớm tại Sài Gòn (1965) của tác giả Đoàn Văn An: Giáo dục Nhật Bản hiện đại.
  • Các công trình chuyên khảo giai đoạn sau: PGS. Nguyễn Văn Hồng với Lịch sử giáo dục thời Minh Trị Duy tân; TS. Hoàng Minh Hoa với chuyên khảo Cải cách ở Nhật Bản trong những năm 1945–1951; TS. Lưu Ngọc Trịnh với Chiến lược con người trong phát triển kinh tế Nhật Bản ở giai đoạn thần kỳ 1951–1973.

Vị trí của luận án: Luận án kế thừa các nguồn tài liệu thống kê, văn bản luật và phân tích học thuật của các tác giả đi trước; đồng thời định vị là một công trình chuyên ngành lịch sử tiếp cận tổng thể, liên kết hai giai đoạn cải cách bản lề để làm nổi bật tính liên tục và sự chuyển biến về chất của thể chế giáo dục trong mối quan hệ hữu cơ với phát triển kinh tế - xã hội.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

  • Cơ sở lý luận và hệ khái niệm: Luận án vận dụng quan điểm duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa kiến trúc thượng tầng (chính sách, luật pháp, thể chế giáo dục) và cơ sở hạ tầng (sự biến đổi kinh tế, cơ cấu lao động, phân tầng xã hội); sử dụng các khái niệm về "Wakon Yosai" (Hòa hồn Dương tài – Tinh thần Nhật Bản, kỹ thuật phương Tây), "Bunmeikaika" (Văn minh khai hóa), "Fukoku Kyohei" (Phú quốc cường binh), chế độ giáo dục nghĩa vụ và dân chủ hóa giáo dục.
  • Phương pháp nghiên cứu:
    • Phương pháp lịch sử: Được sử dụng xuyên suốt nhằm tái hiện các sự kiện, chính sách giáo dục theo trình tự thời gian trong bối cảnh cụ thể của từng giai đoạn lịch sử Nhật Bản.
    • Phương pháp logic và so sánh: So sánh đối chiếu hai cuộc cải cách (thời Minh Trị và sau 1945), so sánh mô hình giáo dục Nhật Bản với mô hình phương Tây (Pháp, Mỹ, Đức) và đối chiếu tỷ lệ chi phí giáo dục giữa trung ương và địa phương, giữa giáo dục và quân sự.
    • Phương pháp thống kê, phân tích và tổng hợp tư liệu: Khai thác số liệu về mạng lưới trường học, tỷ lệ phổ cập, ngân sách giáo dục và biến đổi cơ cấu cư dân.
  • Nguồn tư liệu: Luận án sử dụng hai nguồn tư liệu chính bằng tiếng Nhật và tiếng Việt; kết hợp tham khảo các chuyên khảo bằng tiếng Anh và tiếng Nga.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cải cách giáo dục thời Minh Trị Duy tân

Chương này trình bày toàn diện bối cảnh lịch sử, tiền đề giáo dục truyền thống, các nguyên tắc, các giai đoạn và nội dung xây dựng hệ thống giáo dục mới dưới thời Minh Trị (1868–1912).

1. Nền giáo dục Nhật Bản trước thời Minh Trị: Tác giả điểm lại tiến trình lịch sử từ thời nguyên thủy Jomon (10.000–300 TCN), Yayoi (300 TCN–300 SCN), việc du nhập chữ Hán qua Wani (năm 285 mang theo Luận ngữ và Thiên tự văn), Phật giáo (năm 538), cải cách Taika (645) và ban hành Taiho ritsuryo (Đại Bảo luật lệnh, năm 701) với Gakurei (Học lệnh) gồm 22 chương quy định hệ thống trường 2 cấp (Đại học ở kinh đô và Quốc học ở các tỉnh).

Dưới thời Mạc Phủ Tokugawa (1600–1868), hệ thống giáo dục phát triển đa dạng với 4 loại hình cơ bản:

  • Shoheizaka Gakumonsho (Xương Bình Phản Học Vấn sở): Trường trung tâm của Mạc Phủ tại Edo thành lập từ tư thục của họ Lâm năm 1607, đào tạo quan chức theo Tống Nho Chu Hi.
  • Hanko (Phiên hiệu): Trường học của các phiên trấn dành cho con em võ sĩ, duy trì đẳng cấp nghiêm ngặt, cuối thế kỷ XVIII mở rộng dạy thêm Tây y và khoa học phương Tây.
  • Kyogaku (Hương học): Trường công lập cấp cơ sở thành lập từ năm 1667 ở han Okayama cho con em võ sĩ xa trung tâm và bình dân lớp trên.
  • Shijuku (Tư thục): Các trường tư nhân năng động, gồm 5 nhóm (Hán học, Lan học, Quốc học, Kỹ nghệ thực dụng, Hành động trực tiếp) như Kogido (Cổ Nghĩa Đường, 1622), Kaitokudo (Hoài Đức Đường, 1726).
  • Terakoya (Tự tử ốc): Trường học dân gian phi tôn giáo dạy đọc, viết, tính toán (môn Toán) và đạo đức cho tầng lớp bình dân.
Năm thành lập Trường tư Terakoya Hương học Trường phiên
Trước 1750 19 47 11 40
1751 – 1788 38 194 9 48
1789 – 1829 207 1.675 48 56
Tổng cộng thời Edo 1.076 10.202 118 225
1868 – 1872 182 1.035 76 48
Không rõ năm 235 4 - 3
Tổng cộng 1.493 11.237 198 276

Bảng 1.1: Số lượng các loại trường trong thời Tokugawa (nguồn: Richard Rubinger, dẫn theo luận án).

Loại trường Trước 1829 1830 – 1853 1854 – 1867
Terakoya 219.720 449.628 739.068
Trường phiên 51.708 72.828 89.261
Xương Bình học vấn sở 6.000 7.000 8.000

Bảng 1.2: Số học sinh đến trường trung bình hàng năm (Đơn vị: Người; nguồn: Herbert Passin, dẫn theo luận án).

Nhóm xã hội Tỷ lệ người biết chữ (%) Tỷ lệ so sánh cư dân (%)
Võ sĩ (Samurai) Hầu như 100% (Phụ nữ: 50%) 7
Thị dân thành phố lớn 70 – 80 3
Cư dân thị trấn và thành phố nhỏ 50 – 60 -
Công nhân đô thị lớn 50 – 65 2
Công nhân đô thị nhỏ 40 – 50 -
Chủ đất Hầu như 100% 87
Chức dịch trong làng 50 – 60 -
Người canh tác nhỏ 30 – 40 -
Nông dân vùng xa 20 -

Bảng 1.3: Tỷ lệ người biết chữ những năm cuối thời kỳ Tokugawa (nguồn: Herbert Passin, dẫn theo luận án).

2. Công cuộc Duy tân Minh Trị và những nguyên tắc cải cách giáo dục: Sau khi Thiên hoàng Minh Trị nắm quyền (1868) và công bố Năm điều thề, chính phủ ban hành lệnh Phế phiên, trí huyện (1871) và thành lập Bộ Giáo dục (Monbusho, 1871). Cải cách giáo dục dựa trên 3 nguyên tắc nền tảng:

  • Tiếp thu văn hóa phương Tây trên cơ sở đề cao chủ nghĩa quốc gia ("Wakon Yosai" - Tinh thần Nhật Bản, kỹ thuật phương Tây; tư tưởng trong Khuyến học của Fukuzawa Yukichi).
  • Nhà nước kiểm soát toàn diện nền giáo dục (Bộ Giáo dục trực tiếp quy định và kiểm soát sách giáo khoa, chương trình).
  • Thiết lập nền giáo dục thực dụng (loại bỏ lối học từ chương trích cú, phục vụ công cuộc kỹ nghệ hóa).

Để triển khai, chính phủ Minh Trị đã thuê nhiều chuyên gia nước ngoài và gửi phái đoàn ngoại giao - giáo dục Iwakura (1871–1873) đi khảo sát Âu - Mỹ.

Năm Giáo sư Kỹ thuật gia Nhà quản lý Thợ lành nghề Thành phần khác Tổng cộng
1872 102 127 43 46 51 369
1874 151 213 68 27 65 524
1876 129 170 60 26 84 469
1878 101 118 51 7 44 321
1880 76 103 40 6 12 237

Bảng 1.4: Số lượng chuyên gia nước ngoài đến Nhật thời kỳ đầu Minh Trị (Đơn vị: Người; nguồn: Inoue Kyoshi, dẫn theo luận án).

3. Các giai đoạn cải cách và hình thành hệ thống trường học hiện đại:

  • Giai đoạn 1872–1885: Du nhập mô hình giáo dục mới. Ban hành Gakusei (Học chế, 03/8/1872 gồm 213 điều) chia cả nước thành 8 đại học khu, 256 trung học khu và 53.760 tiểu học khu theo mô hình tập quyền của Pháp; đến năm 1879 thay thế bằng Kyoikurei (Giáo dục lệnh) chuyển sang phân quyền theo kiểu Mỹ.
Năm Quốc gia Thành phố Phủ, Huyện Tổng địa phương
1881 10,2 14,3 75,5 89,8
1885 9,5 11,2 79,3 90,5
1890 9,7 12,4 77,9 90,3
1900 14,2 21,6 64,4 85,8
1910 10,6 18,5 70,9 89,4

Bảng 1.5: Tỷ lệ chi phí cho giáo dục của Trung ương và địa phương (Đơn vị: %; nguồn: Herbert Passin, dẫn theo luận án).

Cấp hành chính Năm 1880 (%) Năm 1890 (%)
Chính phủ Trung ương 2,7 3,5
Phủ, Huyện (Tỉnh) 8,2 5,6
Xã, Phường 20,0 18,9
Quận, Thị 29,8 32,1

Bảng 1.6: Tỷ lệ ngân sách dành cho giáo dục của các cấp hành chính (nguồn: Herbert Passin, dẫn theo luận án).

  • Giai đoạn 1885–1912: Hoàn thiện hệ thống và luật giáo dục dưới thời Bộ trưởng Mori Arinori (1885–1889), ban hành Sắc lệnh Trường Tiểu học, Trường Trung học, Trường Đại học Đế quốc (1886) và Sắc chỉ Giáo dục (Kyoiku Chokugo, 1890) củng cố chủ nghĩa dân tộc và đạo đức trung quân ái quốc.
  • Hình thành các phân hệ: Trường tiểu học (phổ cập 4 năm rồi tăng lên 6 năm năm 1907), trường trung học và chuyên nghiệp, giáo dục cao đẳng/đại học (Đại học Hoàng gia Tokyo thành lập 1877), trường sư phạm đào tạo giáo viên.

Chương 2: Cải cách giáo dục sau Chiến tranh thế giới thứ hai

Chương 2 tập trung phân tích cuộc cải cách giáo dục mang tính tái thiết toàn diện dưới thời kỳ chiếm đóng của Bộ Chỉ huy Tối cao các Lực lượng Đồng minh (SCAP/GHQ):

  • Tình hình nước Nhật và giáo dục sau năm 1945: Cơ sở vật chất trường học bị tàn phá nặng nề do bom đạn; khủng hoảng kinh tế, thiếu hụt phòng học đạt chuẩn (năm 1949 tỷ lệ lớp học không đạt chuẩn ở mức cao); tình trạng suy dinh dưỡng và giảm sút thể lực của học sinh.
  • Chính sách của phía Mỹ: Tháng 10/1945, SCAP ra chỉ thị thanh lọc quân phiệt, phi quân sự hóa và giải trừ chủ nghĩa dân tộc cực đoan trong sách giáo khoa ("sách giáo khoa gạch mực"). Tháng 3/1946, Phái đoàn Giáo dục Hoa Kỳ (gồm 27 chuyên gia) sang Nhật Bản khảo sát và đưa ra Báo cáo khuyến nghị tái cấu trúc toàn diện theo hướng dân chủ hóa.
  • Luật Giáo dục cơ bản (ban hành tháng 3/1947): Khẳng định quyền bình đẳng về cơ hội học tập, tự do học thuật, tôn trọng nhân cách cá nhân, xóa bỏ giáo dục phục vụ quân phiệt; tách rời tôn giáo khỏi nhà trường công lập.
  • Áp dụng hệ thống giáo dục mới 6-3-3-4: 6 năm tiểu học, 3 năm trung học cơ sở (9 năm giáo dục nghĩa vụ bắt buộc miễn học phí), 3 năm trung học bậc cao (cấp 3) và 4 năm đại học (kèm hệ đại học ngắn hạn 2 năm - Junior College). Thành lập Ủy ban Giáo dục địa phương do dân bầu.
  • Tác động kinh tế - xã hội: Đại chúng hóa giáo dục bậc cao, nâng cao tỷ lệ học sinh học lên trung học bậc cao và đại học; cung cấp nguồn lao động kỹ thuật có trình độ cao cho các ngành công nghiệp chế tạo, đóng góp trực tiếp vào giai đoạn tăng trưởng kinh tế thần kỳ (1951–1973).

Chương 3: Nhận xét về cải cách giáo dục ở Nhật Bản và tình hình giáo dục Nhật Bản hiện nay

  • So sánh hai cuộc cải cách:
    • Cải cách Minh Trị thiết lập nền giáo dục hiện đại theo cấu trúc tinh hoa, phục vụ mục tiêu độc lập dân tộc và "phú quốc cường binh", chịu sự quản lý tập quyền và định hướng tư tưởng dân tộc chủ nghĩa.
    • Cải cách sau 1945 là quá trình dân chủ hóa sâu sắc, chuyển từ mô hình tinh hoa sang mô hình đại chúng, phân quyền quản lý và đề cao quyền cá nhân.
    • Điểm tương đồng: Cả hai cuộc cải cách đều diễn ra trong bối cảnh đất nước đứng trước thách thức sống còn; đều chủ động tiếp thu mô hình bên ngoài (Âu - Mỹ) nhưng nhanh chóng bản địa hóa để đáp ứng nhu cầu phát triển nội tại.
  • Các vấn đề giáo dục Nhật Bản thời kỳ đương đại: Tác giả chỉ ra các hiện tượng tiêu cực phát sinh trong xã hội hiện đại như áp lực thi cử khốc liệt ("địa ngục thi cử" - Juken jigoku), sự bùng nổ của các trường luyện thi (Juku), bạo lực học đường (Ijime), hiện tượng từ chối đến trường (Futoko) và sự cạnh tranh bằng cấp đối với giới trẻ.

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Về mặt khoa học và tư liệu: Luận án đã sưu tầm, dịch thuật và hệ thống hóa khối lượng tư liệu chuyên ngành tiếng Nhật phong phú về lịch sử giáo dục Nhật Bản; cung cấp chuỗi bảng biểu số liệu chính xác về số lượng trường học thời Tokugawa, mức độ biết chữ, ngân sách phân bổ trung ương - địa phương và tiến trình phát triển giáo dục qua các mốc 1872, 1879, 1886, 1890 và 1947.
  2. Về mặt nhận thức lịch sử: Luận án chứng minh rằng thành công của nền giáo dục hiện đại thời Minh Trị không phải là sự hình thành tức thời mà được kế thừa từ nền tảng giáo dục phong phú thời Edo (đặc biệt là mạng lưới Terakoya và Shijuku); chỉ rõ tính chất thực dụng và nguyên tắc kết hợp "Wakon Yosai" là nhân tố bảo đảm tính tự chủ văn hóa khi tiếp thu kỹ thuật phương Tây.
  3. Bài học kinh nghiệm thực tiễn cho Việt Nam:
    • Coi đầu tư cho giáo dục là quốc sách hàng đầu và đầu tư cho nguồn nhân lực con người là yếu tố quyết định sự tăng trưởng bền vững.
    • Kết hợp hài hòa giữa tiếp thu tri thức, công nghệ hiện đại của thế giới với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
    • Phân định rõ ràng trách nhiệm tài chính và cơ chế quản lý giữa trung ương và chính quyền địa phương trong phát triển giáo dục nghĩa vụ.
    • Chú trọng giáo dục nghề nghiệp, đa dạng hóa các loại hình đào tạo để cung ứng nguồn nhân lực phù hợp với từng giai đoạn chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung dung lượng chính vào giai đoạn Minh Trị (1868–1912) và giai đoạn đầu sau Chiến tranh thế giới thứ hai (thời kỳ chiếm đóng); giai đoạn giáo dục thời kỳ chiến tranh (1912–1945) và cuộc cải cách giáo dục lần thứ ba (từ thập niên 1980 đến đầu thế kỷ XXI) chưa được khảo sát sâu do giới hạn phạm vi đề tài.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Đi sâu khảo sát tác động kinh tế lượng của chất lượng giáo dục đối với từng ngành công nghiệp cụ thể của Nhật Bản trong giai đoạn 1955–1985; nghiên cứu kinh nghiệm xử lý các áp lực học đường và cải cách giáo dục đại học Nhật Bản trong bối cảnh toàn cầu hóa thế kỷ XXI.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Lịch sử, Nhật Bản học, Đông phương học: Cung cấp hệ thống tư liệu lịch sử, thuật ngữ chuyên ngành tiếng Nhật và bảng thống kê chi tiết về lịch sử chính sách giáo dục Nhật Bản.
  • Đối với các nhà quản lý và hoạch định chính sách giáo dục: Cung cấp bài học thực tiễn về phương thức phổ cập giáo dục tiểu học bắt buộc, cơ chế phân bổ ngân sách giáo dục cấp cơ sở (xã, phường, quận, thị) và kinh nghiệm xây dựng trường chuyên nghiệp gắn liền với nhu cầu công nghiệp hóa.

Câu hỏi thường gặp

1. Nền tảng giáo dục thời kỳ Tokugawa (Edo) đã tạo tiền đề gì cho cuộc cải cách giáo dục thời Minh Trị?
Thời kỳ Tokugawa đã phát triển một mạng lưới trường học dày đặc gồm Hanko (trường phiên cho võ sĩ), Shijuku (tư thục) và hơn 11.000 Terakoya (tự tử ốc cho bình dân). Mạng lưới này mang lại tỷ lệ biết chữ vào cuối thời Edo đạt 70–80% ở thị dân thành phố lớn và gần 100% ở tầng lớp võ sĩ, tạo sẵn hạ tầng xã hội và thói quen học tập để chính quyền Minh Trị triển khai nhanh chóng chế độ giáo dục hiện đại.

2. Bản chất của khẩu hiệu "Wakon Yosai" trong chính sách giáo dục thời Minh Trị là gì?
"Wakon Yosai" (Hòa hồn Dương tài) có nghĩa là "Tinh thần Nhật Bản, kỹ thuật phương Tây". Đây là nguyên tắc tiếp thu văn minh phương Tây như một phương tiện kỹ thuật để phục vụ mục tiêu bảo vệ độc lập dân tộc và làm giàu đất nước, trong khi nền tảng đạo đức, tư tưởng vẫn giữ vững bản sắc dân tộc và lòng trung quân ái quốc theo tinh thần Thần đạo và Nho giáo.

3. Văn bản pháp lý nào đánh dấu bước khởi đầu của nền giáo dục hiện đại thời Minh Trị và cơ cấu của nó ra sao?
Đó là Gakusei (Học chế) do Bộ Giáo dục Nhật Bản ban hành ngày 03/8/1872 gồm 213 điều. Học chế chia cả nước thành 8 đại học khu, mỗi đại học khu có 32 trung học khu (tổng cộng 256 trung học khu), mỗi trung học khu có 210 tiểu học khu (tổng cộng 53.760 tiểu học khu), xác định mục tiêu học vấn là phương tiện lập thân của mỗi người dân không phân biệt đẳng cấp.

4. Điểm cốt lõi của cuộc cải cách giáo dục sau năm 1945 tại Nhật Bản là gì?
Điểm cốt lõi là quá trình dân chủ hóa và phi quân sự hóa giáo dục: ban hành Luật Giáo dục cơ bản (1947), bãi bỏ Sắc chỉ Giáo dục cũ, thiết lập hệ thống trường học 6-3-3-4 với 9 năm giáo dục nghĩa vụ bắt buộc, thực hiện bình đẳng nam nữ trong giáo dục và phân quyền quản lý cho các Ủy ban Giáo dục địa phương.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Đặng Xuân Kháng là một công trình nghiên cứu lịch sử chuyên khảo có hệ thống về hai cuộc cải cách giáo dục lớn trong lịch sử Nhật Bản cận - hiện đại. Bằng việc phân tích sâu sắc các dữ liệu lịch sử, hệ thống luật pháp và số liệu thống kê, tác giả đã làm sáng tỏ vai trò động lực của giáo dục đối với sự biến đổi kinh tế - xã hội Nhật Bản từ thời Minh Trị Duy tân đến thời kỳ phục hồi sau năm 1945. Công trình mang lại những nhận thức khoa học khách quan và cung cấp các bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo thiết thực cho sự nghiệp phát triển giáo dục tại Việt Nam.