Chương 1: Giới thiệu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: mô tả dữ liệu và các phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Lý thuyết đánh đổi Theo lý thuyết đánh đổi lập luận rằng các công ty tối đa hóa giá trị của mình bằng cách xem xét các chi phí cận biên và lợi ích cận biên của việc nắm giữ tiền mặt. Theo các giả định, các nhà quản lý nhằm tối đa hóa lợi nhuận của cổ đông và việc nắm giữ tiền mặt sẽ tạo nên chi phí gọi là chi phí lưu trữ. Lợi ích biên của việc nắm giữ tiền mặt là giảm nguy cơ kiệt quệ tài chính và giảm các chi phí liên quan đến việc huy động vốn từ bên ngoài.
Chi phí cận biên của việc nắm giữ tiền mặt đó là chi phí cơ hội của việc nắm giữa tiền mặt. Chi phí này có liên quan đến sự chênh lệch giữa việc nắm giữ tiền mặt và lãi suất mà các công ty sẽ trả tiền để tài trợ thêm tiền mặt (Dittmar, Mahrt-Smith, & Servaes, 2003). Bằng chứng thực nghiệm của Dittmar, Mahrt-Smith, & Servaes, 2003 cho thấy rằng, khi thực hiện quản trị tiền mặt, để việc nắm giữ tiền mặt không vượt mức nắm giữ cần thiết, các nhà quản lý cần giám sát chặt chẽ dòng tiền tự do. Nếu một công ty có trình độ quản lý yếu kém sẽ sử dụng lượng tiền mặt dư không hiệu quả và đầu tư ít có lợi nhuận so với các công ty có năng lực quản lý tốt.
Có nhiều yếu tố tài chính khác nhau quyết định đến việc nắm giữ tiền mặt, các nghiên cứu thực nghiệm cũng phản ánh lý thuyết này. Theo Al-Najjar và Belghitar (2011), sau Ozkan và Ozkan (2004) và Opler et al. (1999) đã nghiên cứu thực nghiệm về lý thuyết đánh đổi bằng cách sử dụng đòn bẩy, chính sách cổ tức, quy mô công ty, rủi ro, và tính thanh khoản tài sản. Với việc sử dụng dữ liệu bảng và dữ liệu của các quốc gia EMU theo nghiên cứu của Ferreira và Vilela (2004) cũng sử dụng thanh khoản, đòn bẩy, tăng trưởng và quy mô công ty để kiểm chứng thực nghiệm đối với lý thuyết này.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Thêm vào đó, thuyết đánh đổi nhấn mạnh rằng công ty thực hiện việc nắm giữ tiền mặt hợp lý có thể đạt được chính sách đầu tư tốt ngày cả khi họ gặp khó khăn về tài chính. Miller & Orr, 1966; Kim và các cộng sự (1998) đã phát triển lý thuyết đánh đổi để xác định mức nắm giữ tiền mặt tối ưu bằng cách cân bằng chi phí khi không còn tiền mặt và chi phí nắm giữ tiền mặt không hưởng lãi. Opler et al. (1999)xác định sự phổ biến của tiền mặt tối ưu mà tại đó chi phí biên của tình trạng thiếu tiền mặt ngang bằng với chi phí biên nắm giữ tiền mặt.
Ferreira và Vilela (2004) lập luận rằng việc nắm giữ tiền mặt nhiều giảm xác suất của khủng hoảng tài chính do những khoản lỗ bất ngờ gây ra. Lý thuyết trật tự phân hạng Lý thuyết này cho rằng không có mức nắm giữ tiền mặt tối ưu cho một công ty. Dựa trên những thông tin bất đối xứng, Myers (1984) và Myers và Majluf (1984) cho rằng các công ty theo một trật tự trong các quyết định tài chính để giảm thiểu chi phí liên quan đến thông tin bất đối xứng. Trình tự bắt đầu với nguồn vốn nội bộ và sau đó sẽ sử dụng nguồn bên ngoài, sau khi các nguồn nội bộ đang cạn kiệt.
Myers (1984) đề xuất rằng công ty thiên về tài trợ bên ngoài bằng nợ hơn so với phát hành cổ phiếu, vì nợ có chi phí thấp hơn so với vốn chủ sở. Tiền mặt có thể được xem như là kết quả của các quyết định tài trợ và đầu tư khác nhau theo mô hình thứ bậc của quyết định tài chính (Dittmar et al. Ferreira và Vilela (2004) cho rằng tiền có thể được sử dụng cho các khoản đầu tư trả các khoản nợ của công ty và kế tiếp là dự trữ tiền mặt. Dittmar et al.
(2003), quan điểm hệ thống trật tự phân hạng cho thấy rằng không có mức tối ưu tiền mặt, cũng như mức tối ưu của số dư tiền mặt. Số dư tiền mặt chỉ đơn giản là kết quả của các quyết định tài trợ và đầu tư khác nhau được công ty thực hiện. Các công ty có dòng tiền lớn sẽ trả cổ tức, trả nợ và sau đó là trữ tiền mặt. Các công ty có dòng tiền thấp hơn sẽ giảm lượng tiền mặt của họ, phát hành nợ để tài trợ cho các dự án đầu tư nhưng sẽ hạn chế phát hành cổ phiếu vì tốn nhiều chi phí.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Lý thuyết về dòng tiền tự do Jensen (1986) cho rằng các nhà quản lý có một động cơ để tích trữ tiền nhằm làm tăng tài sản dưới sự điều hành của họ và để tăng quyền tự quyết cho các quyết định đầu tư của công ty. Có tiền sẵn để đầu tư, các nhà quản lý không cần phải huy động vốn ở bên ngoài cũng như phải cung cấp thông tin chi tiết về các dự án đầu tư của công ty. Do đó, các nhà quản lý có thể thực hiện các đầu tư mà có một tác động ngược chiều lên lợi ích của cổ đông.
Thiết lập cơ hội đầu tư: Giám đốc của những công ty có cơ hội đầu tư yếu được dự kiến nắm giữ nhiều tiền hơn để đảm bảo sự sẵn có của các quỹ cho đầu tư vào các dự án tăng trưởng, ngay cả khi NPV của các dự án là âm. Điều này sẽ làm giảm giá trị cổ đông ngay cả khi công ty có chương trình đầu tư lớn, với một tỉ lệ giá trị thị trường trên giá trị sổ sách thấp. Do đó, sử dụng giá trị thị trường trên giá trị sổ sách lớn như là một đại diện, có khả năng mối quan hệ giữa sự thiết lập cơ hội đầu tư và nắm giữ tiền sẽ là ngược chiều. Đòn bẩy: Các công ty có đòn bẩy thấp ít quan tâm đến việc giám sát, cho phép quyết định quản trị cao hơn.
Do đó, Lý thuyết dòng tiền tự do dự kiến công ty có đòn bẩy thấp nắm giữ nhiều tiền hơn. Các yếu tố tác động đến việc nắm giữ tiền mặt 2. Tỷ lệ vốn vay Cả lý thuyết đánh đổi và thuyết trật tự phân hạng dự đoán có mối tương quan âm giữa tỷ lệ vốn vay và tỷ lệ nắm giữ tiền mặt. Theo thuyết đánh đổi, Caglayan, Ozkan & Ozkan (2002) và Diamond (1984) cho rằng nợ có thể thay thế nắm giữ tiền mặt vì nợ làm giảm rủi ro đạo đức và giúp linh hoạt hơn.
Tương tự, thuyết trật tự phân hạng , Opler và cộng sự (1999) phát biểu rằng các công ty có sử dụng lượng tiền mặt dự thừa hoặc là để trả nợ hoặc là tiếp tục tích lũy tiền mặt, mặc dù các công ty có thể duy trì một mức nợ mục tiêu, tuy nhiên, tiền vẫn được sử dụng theo thuyết trật tự phân hạng. Lý thuyết dòng tiền tự do cũng dự đoán một mối tương quan âm giữa tỷ lệ vốn vay và tỷ lệ nắm giữ tiền mặt vì các công ty sử dụng vốn vay ít có thể LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 chịu ít sự giám sát từ bên ngoài hơn và do đó cho phép nhà quản lý quyết định nắm giữ tiền mặt cao hơn theo vấn đề về chi phí đại diện. Tuy nhiên, Ferreira và Vilela (2003) cho rằng thuyết đánh đổi cũng có thể dự đoán một mối tương quan dương giữa tỷ lệ vốn vay và tỷ lệ nắm giữ tiền mặt vì đòn bẩy làm tăng xác suất phá sản và do đó, công ty nắm giữ tiền mặt nhiều hơn để làm giảm xác suất rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính. Do đó, dựa trên những nghiên cứu thực nghiệm trước, giả thuyết đầu tiên của bài nghiên cứu là: H1.
Có mối tương quan âm giữa tỷ lệ vốn vay và tỷ lệ nắm giữ tiền mặt. Tỷ lệ chi trả cổ tức Khi công ty cần tiền mặt và gặp khó khăn trong việc huy động nợ có thể do họ bị hạn chế về tài chính hoặc vì đòn bẩy nợ của họ đã quá cao, do đó, họ có thể cố gắng tăng lợi nhuận giữ lại bằng cách giảm các khoản thanh toán cổ tức. Chính vì vậy, các công ty đang bị hạn chế tài chính chỉ có thể đạt được lượng tiền mặt mục tiêu bằng cách giảm chi trả cổ tức (Fazzari và cộng sự, 1993). Theo Opler et al.
(1998) nhận định rằng nếu công ty có một sự thiếu hụt về tài sản lưu động, công ty có thể đối phó với sự thiếu hụt bằng việc cắt giảm đầu tư hoặc giảm chi trả cổ tức hoặc bằng cách huy động vốn bên ngoài thông qua việc phát hành chứng khoán hoặc bán tài sản. Theo lý thuyết đánh đổi, tỷ lệ chi trả cổ tức và nắm giữ tiền mặt có mối tương quan âm, vì khi công ty chi trả cổ tức có thể đánh đổi chi phí của việc nắm giữ tiền mặt bằng cách giảm việc chi trả cổ tức. Nói cách khác, các công ty chia cổ tức cho các cổ đông thì có nhiều khả năng huy động vốn với chi phí thấp hơn khi cần thiết bằng cách giảm các chi trả cổ tức (Al-Najjar & Belghitar, 2011). Ozkan và Ozkan (2004: 2106) lập luận rằng khi nguồn tài trợ nội bộ của công ty thấp, việc cắt giảm chi trả cổ tức giúp công ty giảm chi phí cần thiết.
Họ cho rằng các công ty chi trả cổ tức thì có thể nắm giữ tiền mặt ít hơn vì công ty có nhiều khả năng gia tăng huy động vốn khi cần thiết bằng cách cắt giảm cổ tức. Do đó, dựa trên những LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 nghiên cứu thực nghiệm trước và lý thuyết đánh đổi, giả thuyết thứ hai của bài nghiên cứu là: H2. Có mối tương quan âm giữa tỷ lệ chi trả cổ tức và tỷ lệ nắm giữ tiền mặt. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu Dựa trên mô hình thứ bậc của quyết định tài chính, tiền mặt là một kết quả của các hoạt động đầu tư và tài trợ (Dittmar et al.
Theo đó, các công ty có lợi nhuận có khả năng chi trả cổ tức, chi trả nghĩa vụ nợ, và dự trữ tiền mặt. Các công ty có ít lợi nhuận sẽ giữ tiền mặt ít hơn và vay nợ để tài trợ các dự án của họ.