Chương 1 trình bày về tổng quan và cơ sở lý luận của đề tài; trên cơ sở đó, luận án có được một khung lý thuyết để tìm ra các YTNN ảnh hưởng đến ĐKVB tiếng Việt (đối chiếu với tiếng Anh). Bên cạnh đó, việc đúc rút thực tiễn từ kết quả nghiên cứu về các YTNN có ảnh hưởng đối với ĐKVB tiếng Anh của S. Leary (1935), công thức đo ĐKVB tiếng Việt của Nguyễn Thanh Liêm và Alan B. Henkin (1985), công cụ đo ĐKVB tiếng Anh và các khái niệm liên quan, đã vạch ra hướng đi và giới hạn lại các phạm vi nghiên cứu thành phần sẽ được đề cập trong 3 chương tiếp theo.
Chương 2 trình bày sự ảnh hưởng của yếu tố từ đối với ĐKVB tiếng Việt (đối chiếu với tiếng Anh). Trong phạm vi từ, luận án xem xét yếu tố từ trên các khía cạnh bề mặt, ngữ nghĩa, tần suất và các lớp từ vựng trong chủ đề VB. Trên cơ sở khảo sát, phân tích ngữ liệu, đối chiếu tiếng Việt với tiếng Anh, luận án đã xác định được mức ảnh hưởng của các YTNN chi phối đến ĐKVB tiếng Việt trong phạm vi từ, trong đó yếu tố tần suất từ là YTNN ảnh hướng lớn nhất trong phạm vi này. Chương 3 xem xét sự ảnh hưởng của yếu tố câu đối với ĐKVB tiếng Việt trên cơ sở đối chiếu với tiếng Anh.
Trong phạm vi này, các YTNN bề mặt và bề sâu có ảnh hưởng đến ĐKVB tiếng Việt đã được xác định. Bên cạnh đó, việc khảo sát, đánh giá, phân tích các yếu tố bề sâu về mặt cấu trúc câu đã giúp cho luận án tìm ra được vai trò và mức độ ảnh hưởng của yếu tố độ sâu của cây cú pháp đối với ĐKVB tiếng Việt. Trên cơ sở đó có hướng đề xuất để xác định ĐKVB tiếng Việt trong phạm vi câu. Chương 4 trình bày kết quả thống kê và phân tích các YTNN bề mặt và bề sâu có ảnh hưởng đến ĐKVB tiếng Việt (đối chiếu với tiếng Anh) trong phạm vi văn bản.
Trên cơ sở đó, luận án có thể tổng kết được các YTNN ảnh hưởng đến ĐKVB tiếng Việt trong một chỉnh thể hoàn chỉnh: Từ, Câu, và Văn bản, phần lớn theo hướng định lượng. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. VĂN BẢN VÀ ĐỘ KHÓ CỦA VĂN BẢN 1. Văn bản Theo Diệp Quang Ban (2003, 2009), L.Hjelmsle là người đầu tiên đề xuất khái niệm "văn bản" với quan niệm: "Cái duy nhất đến với người nghiên cứu ngôn ngữ với tư cách khởi điểm (…) đó là văn bản trong tính hoàn chỉnh tuyệt đối và không tách rời của nó" (tr.39); "Văn bản được xét như một lớp phân chia được thành các khúc đoạn.
Tiếp theo các khúc đoạn đó lại được lấy làm các lớp và, đến lượt mình, chúng được phân chia thành các khúc đoạn, và cứ thế cho đến chừng nào sự phân chia kết thúc" (tr. Bên cạnh quan điểm cho rằng: "văn bản không phải là một phép cộng đơn thuần của các câu" (Trần Ngọc Thêm, 2013, tr.13) thì cũng có quan điểm: "văn bản bao gồm có thể chỉ một câu, có thể nhiều câu, thậm chí cả một cuốn sách" (Hoàng Tuệ, 1989, tr. Hay cụ thể hơn, Nguyễn Thị Ly Kha (2008) đã định nghĩa: "Văn bản là sản phẩm của quá trình tạo lời, có tính thống nhất trọn vẹn về nội dung ý nghĩa và hoàn chỉnh về hình thức" (tr. Diệp Quang Ban (2009) đã đưa ra định nghĩa khái quát như sau: "Văn bản là một loại đơn vị được làm thành từ một khúc đoạn lời nói hay lời viết, hoặc lớn hoặc nhỏ, có cấu trúc, có đề tài…, như một truyện kể, một bài thơ, một đơn thuốc, một biển chỉ đường…" (tr.
Như vậy, được nhìn từ nhiều góc độ nghiên cứu, văn bản có thể có các khái niệm khác nhau, nhưng trong khuôn khổ của đề tài, luận án dùng khái niệm văn bản theo nghĩa: Văn bản là sản phẩm của tạo lời, tồn tại dưới dạng thức viết, có tính thống nhất về nội dung và hình thức nhằm thực hiện chức năng thông báo thông tin. Do vậy, ta thấy rằng thuộc tính vật chất của văn bản là sản phẩm ngôn ngữ, dạng thức tồn tại của văn bản là hình thức viết với nhiều thể loại khác nhau và chức năng của văn bản là dùng trong các phạm vi thông báo thông tin. Theo đó, một văn bản (có thể là một từ, một câu, hoặc một đoạn văn) được xem xét để đánh giá mức độ khó của nó dựa trên các YTNN bề mặt/hình thức và bề sâu/nội dung. Độ khó của văn bản Văn bản có phù hợp với người đọc hay không, phụ thuộc vào hai nhân tố chính: (1) “Độ hiểu về văn bản” và (2) “Độ phức tạp của văn bản”.
Về nhân tố thứ nhất, nhân tố “Độ hiểu về văn bản” (Comprehensibility) là khả năng hiểu văn bản của người đọc. Điều này liên quan đến các yếu tố như kiến thức có sẵn của họ, kỹ năng đọc của họ, sở thích và động lực. Về nhân tố thứ hai, “Độ phức tạp của văn bản” (Complexibility) liên quan đến các yếu tố nội tại của chính văn bản đó, chẳng hạn: những yếu tố liên quan đến nội dung văn bản, cách trình bày ý tưởng; cấp độ của văn bản; cách thiết kế và kiểu in văn bản; bố cục của văn bản. Căn cứ vào hai nhân tố này, các nghiên cứu về việc đánh giá sự phù hợp giữa văn bản với người đọc được chia thành hai hướng tiếp cận chính: (1) Độ hiểu về văn bản của người đọc và (2) Độ phức tạp của văn bản.
“Độ phức tạp của văn bản” (viết tắt là ĐPTVB) lại được nghiên cứu trên hai phương diện cơ bản là: các yếu tố về “Độ rõ của văn bản” (Text Legibility/ Legibility) và các yếu tố về “Độ khó của văn bản” (Readability/ Text Readability Text Difficulty/ Textual Difficulty). “Độ rõ của văn bản” tập trung vào các yếu tố về hình thức trình bày VB, chẳng hạn như các kiểu chữ, màu phông chữ, cỡ chữ, màu nền, hình ảnh, biểu đồ, v. Trong khi đó hướng nghiên cứu về “độ khó của văn bản” tập trung vào các yếu tố về nội dung của VB, các yếu tố ngôn ngữ bề mặt và các yếu tố ngôn ngữ bề sâu thuộc nội dung của văn bản, chẳng hạn như độ dài từ, độ dài câu, độ dài trung bình câu theo từ, số lượng câu, từ vựng, cú pháp, phương tiện liên kết, v. Như vậy “độ hiểu về văn bản” (viết tắt là ĐHVB) là nghiên cứu về con người, mang tính cá nhân và chủ quan, nó phụ thuộc vào các yếu tố có sẵn của chính đối tượng sử dụng văn bản, trong khi đó “độ rõ của văn bản” (viết tắt là ĐRVB) và “độ khó của văn bản” là nghiên cứu về VB, mang tính khách quan, dành cho một nhóm độc giả và phụ thuộc vào các yếu tố có sẵn trong; trong đó, ĐRVB bao gồm các yếu tố về mặt hình thức, và ĐKVB bao gồm các yếu tố về mặt nội dung.
Đối tượng nghiên cứu của ĐHVB là con người, người đọc VB, còn đối tượng 11 nghiên cứu của ĐRVB và ĐKVB là các VB viết. Các hướng tiếp cận khi nghiên cứu “Sự phù hợp giữa văn bản với người đọc” có thể được mô tả như sau: Biểu đồ 1.1: Các hướng tiếp cận khi nghiên cứu “Sự phù hợp giữa văn bản với người đọc” Số Đặc điểm Độ hiểu về văn bản Độ phức tạp của văn bản tt Comprehensibility Complexibility Độ rõ của văn bản Độ khó của văn bản Legibility Readability 1 Đối tượng - - Khả năng nhận thức của - - Văn bản - - Văn bản nghiên cứu con người 2 Nội dung - - Các đặc điểm của người - - Các yếu tố hình - - Các yếu tố nội dung nghiên cứu đọc ảnh hưởng tới khả thức ảnh hưởng đến ảnh hưởng đến độ năng hiểu văn bản độ rõ của văn bản khó của văn bản 3 Tính chất - - Giải mã - - Mã hóa - Chủ quan - - Khách quan - - Không thể đo, tính toán- - Có thể đo, tính toán - - Đọc văn bản: kỹ năng - - Viết văn bản: ứng dụng (biên soạn giáo đọc hiểu, giảng dạy ngôn trình, tuyển phóng viên, viết hướng dẫn sử ngữ dụng) 4 Phương - - Dựa trên nghiên cứu - - Dựa trên nghiên cứu định lượng (thống kê pháp định tính (kinh nghiệm trên kho ngữ liệu) nghiên cứu sống, kiến thức, chuyên chính môn, sự đam mê, sự minh mẫn.) 5 Ngành - - Ngôn ngữ học - - Ngôn ngữ học nghiên cứu- - Tâm lý học - - Ngôn ngữ học ứng dụng - - Giáo dục học - - Ngôn ngữ học tính toán Bảng 1.1: Sự khác biệt giữa các nghiên cứu theo hướng tiếp cận ĐHVB và ĐPTVB Nghiên cứu về ĐHVB là nghiên cứu về việc giải mã (decoding) khả năng đọc của người đọc, và nghiên cứu về ĐKVB là nghiên cứu về việc mã hóa (encoding) chính các VB đó. Chúng ta không thể đo được kiến thức, động lực hay 12 sự say mê của người đọc, nhưng chúng ta có thể đo những yếu tố ảnh hưởng đến ĐPTVB. Trong khi chúng ta không thể thay đổi được chủ đề viết, nhưng chúng ta có thể thay đổi được cách diễn đạt trong phong cách viết, cách thiết kế và bố cục VB cho phù hợp hơn với mục đích và nhu cầu của người đọc (Dubay, 2007).
Nghiên cứu về ĐKVB là nghiên cứu về các yếu tố làm cho VB dễ hiểu, một văn bản càng dễ đọc, thì VB đó càng dễ hiểu (Donald. Như vậy, nghiên cứu về ĐKVB là nghiên cứu về các yếu tố ngôn ngữ bề mặt và các yếu tố ngôn ngữ bề sâu thuộc nội dung của văn bản, nghiên cứu các yếu tố ngôn ngữ làm cho chính văn bản đó dễ hiểu hơn hoặc khó hiểu hơn. CÁC MÔ HÌNH ĐO ĐỘ KHÓ CỦA VĂN BẢN TIẾNG ANH 1. Phương pháp đo từ khó của Lively và Pressey Công trình nghiên cứu Teacher's Word Book (Từ vựng cho người giảng dạy) của Thorndike (1983) là cầu nối ý tưởng cho nghiên cứu về ĐKVB của Lively và Pressey (1923) trong A Method for Measuring the 'Vocabulary Burden' of Textbooks (Một phương pháp đo lường ‘Từ vựng khó’ của các SGK).
Nghiên cứu của Lively và Pressey được coi là công bố đầu tiên của công thức đo ĐKVB (Chall, 1947, tr. Họ đã sử dụng 3 yếu tố để đánh giá độ khó của từ vựng và hai trong số đó phụ thuộc vào danh sách từ của Thorndike. Công thức được tính toán bằng cách đếm tất cả các từ khác nhau trên 1.000 từ, và tính chỉ số trung bình (median index) của tất cả các từ tìm thấy trong danh sách Thorndike 10.