Tổng quan nghiên cứu

Hệ thống an sinh xã hội giữ vai trò trụ cột trong việc duy trì ổn định kinh tế - xã hội, giảm nghèo bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Tại Việt Nam, chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH) tự nguyện chính thức được áp dụng từ năm 2008 theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006, mở ra cơ hội hưởng lương hưu và chế độ bảo hiểm y tế suốt đời cho lao động thuộc khu vực phi chính thức. Mặc dù hành lang pháp lý đã hoàn thiện và quy định mức đóng linh hoạt bằng 22% mức thu nhập tháng người tham gia tự lựa chọn, tỷ lệ bao phủ trên thực tế tại nhiều địa phương vẫn còn khiêm tốn.

Tại huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre, số liệu thống kê thu của cơ quan BHXH huyện ghi nhận tính đến cuối năm 2018 chỉ có 395 người tham gia BHXH tự nguyện. Con số này chiếm tỷ lệ chưa đầy 0,3% tổng lực lượng lao động toàn huyện và chủ yếu tập trung vào nhóm những người đã từng có thời gian đóng BHXH bắt buộc muốn đóng thêm cho đủ thời gian 20 năm để hưởng lương hưu. Thực trạng này bắt nguồn từ nhiều rào cản như thu nhập bấp bênh của cư dân nông nghiệp, ngư nghiệp, nhận thức về tính an sinh còn hạn chế và tâm lý chưa quen tích lũy tài chính dài hạn.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là xác định và đo lường mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiếp tục tham gia BHXH tự nguyện của người lao động tại địa bàn huyện Ba Tri. Về phạm vi, đề tài sử dụng dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2015-2018 kết hợp với dữ liệu điều tra sơ cấp thu thập trong năm 2019 trên địa bàn 23 xã, thị trấn thuộc huyện. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện ở việc cung cấp luận cứ khoa học chuẩn xác giúp các nhà quản lý nâng cao tỷ lệ duy trì tham gia đạt trên 95% và phát triển đối tượng mới tăng trưởng bền vững từ 15% đến 20% mỗi năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp của hai mô hình hành vi kinh điển: Thuyết hành động hợp lý (TRA) của Fishbein và Ajzen (1975, 1980) và Thuyết hành vi dự định (TPB) của Ajzen (1985, 1991). Thuyết TRA khẳng định ý định hành vi chịu sự chi phối trực tiếp bởi hai yếu tố là thái độ và chuẩn chủ quan. Ajzen sau đó phát triển mô hình TPB bằng việc bổ sung biến kiểm soát hành vi cảm nhận, phản ánh nhận thức của cá nhân về sự sẵn có của các nguồn lực, cơ hội và rào cản khi thực hiện hành vi. Bên cạnh đó, tác giả còn vận dụng Mô hình thái độ ba thành phần của Schiffman và Kanuk (1987) gồm nhận thức, cảm xúc và xu hướng hành vi, cùng Mô hình thái độ đa thuộc tính của Fishbein và Ajzen (1975) để luận giải sự hình thành niềm tin của người tiêu dùng đối với dịch vụ công.

Khung khái niệm trọng tâm bao gồm:

  1. An sinh xã hội: Lưới an toàn do Nhà nước và xã hội cung ứng nhằm bảo đảm thu nhập và chăm sóc y tế khi người dân gặp các biến cố giảm hoặc mất khả năng lao động.
  2. BHXH tự nguyện: Loại hình bảo hiểm công lập cho phép người lao động tự do lựa chọn mức đóng và phương thức đóng để hưởng chế độ hưu trí và tử tuất.
  3. Ý định tiếp tục tham gia: Xu hướng và cam kết tâm lý duy trì nghĩa vụ đóng phí định kỳ nhằm thụ hưởng quyền lợi an sinh dài hạn.

Mô hình nghiên cứu đề xuất gồm 6 biến độc lập với tổng cộng 22 biến quan sát:

  • Nhận thức về tính an sinh xã hội (4 biến quan sát)
  • Thái độ của người lao động (3 biến quan sát)
  • Hiểu biết về bảo hiểm xã hội (3 biến quan sát)
  • Ảnh hưởng xã hội (4 biến quan sát)
  • Thu nhập của người lao động (5 biến quan sát)
  • Hoạt động truyền thông (3 biến quan sát) Biến phụ thuộc là Ý định tiếp tục tham gia BHXH tự nguyện được đo lường qua 3 biến quan sát trên thang đo Likert 5 điểm, quy ước từ 1 (Hoàn toàn không đồng ý) đến 5 (Hoàn toàn đồng ý).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu vận dụng quy trình hỗn hợp kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp định tính và định lượng:

  • Nghiên cứu định tính: Tiến hành thảo luận nhóm tập trung và phỏng vấn tay đôi với 15 chuyên gia cùng người dân (bao gồm 2 thành viên Ban Giám đốc BHXH, 1 cán bộ truyền thông, 3 cán bộ thu, 4 nhân viên đại lý thu và 5 người lao động tự do thuộc các ngành nghề khác nhau). Bước này giúp hiệu chỉnh nội dung các biến quan sát cho phù hợp với đặc thù kinh tế biển và nông nghiệp của huyện Ba Tri, sau đó tiến hành điều tra thử nghiệm trên 20 mẫu để kiểm tra tính đơn nghĩa của bảng hỏi.
  • Nghiên cứu định lượng: Thực hiện bằng kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp người lao động đang tham gia BHXH tự nguyện thông qua bảng câu hỏi chi tiết. Dựa trên nguyên tắc xác định cỡ mẫu phân tích nhân tố của Gorsuch (1983) và Hoàng Trọng cùng Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2005) với tỷ lệ tối thiểu 5 mẫu cho 1 biến quan sát, tổng số mẫu yêu cầu tối thiểu là 125 mẫu (5 nhân với 25 biến quan sát). Tác giả đã phát ra 200 phiếu khảo sát và thu về 186 phiếu hợp lệ, đạt tỷ lệ phản hồi 93%.

Dữ liệu khảo sát năm 2019 được làm sạch và xử lý trên phần mềm SPSS phiên bản 22. Trình tự phân tích bao gồm:

  1. Đánh giá độ tin cậy thang đo thông qua hệ số Cronbach's Alpha (điều kiện chấp nhận lớn hơn 0,6 và hệ số tương quan biến - tổng lớn hơn 0,3).
  2. Phân tích nhân tố khám phá EFA (điều kiện hệ số KMO nằm trong khoảng 0,5 đến 1,0, kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê với Sig nhỏ hơn 0,05, tổng phương sai trích lớn hơn 50% và hệ số tải nhân tố lớn hơn 0,5).
  3. Phân tích hồi quy tuyến tính bội OLS để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu.
  4. Kiểm định Independent Samples T-test và phân tích phương sai một chiều ANOVA nhằm đánh giá sự khác biệt về ý định tiếp tục tham gia theo các biến nhân khẩu học.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả xử lý 186 mẫu hợp lệ trên SPSS 22 cho thấy toàn bộ các thang đo đều đạt độ tin cậy rất cao, với hệ số Cronbach's Alpha của 6 biến độc lập và 1 biến phụ thuộc đều dao động trong khoảng từ 0,78 đến 0,89, không có biến quan sát nào bị loại do tương quan biến - tổng đều lớn hơn 0,35. Phân tích nhân tố khám phá EFA cho 22 biến độc lập trích được 6 nhân tố với tổng phương sai trích đạt 68,45% (lớn hơn ngưỡng 50%) và chỉ số KMO đạt 0,812, khẳng định tính thích hợp vượt trội của dữ liệu. Phân tích EFA cho 3 biến quan sát của thành phần phụ thuộc trích được 1 nhân tố duy nhất với tổng phương sai trích đạt 72,15%.

Phương trình hồi quy tuyến tính bội chuẩn hóa ghi nhận cả 6 nhân tố đều có mối quan hệ đồng biến có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) với ý định tiếp tục tham gia BHXH tự nguyện. Mức độ tác động của các nhân tố được xếp theo thứ tự giảm dần dựa trên hệ số hồi quy chuẩn hóa:

  1. Truyền thông về chính sách (đóng góp khoảng 26,8% vào sự biến thiên của ý định tiếp tục tham gia).
  2. Nhận thức về tính an sinh xã hội (đóng góp khoảng 23,4%).
  3. Thu nhập của người lao động (đóng góp khoảng 19,6%).
  4. Hiểu biết về chính sách bảo hiểm xã hội (đóng góp khoảng 14,5%).
  5. Thái độ của người lao động (đóng góp khoảng 11,2%).
  6. Ảnh hưởng xã hội (đóng góp khoảng 8,5%).

Bên cạnh đó, kiểm định ANOVA phát hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm thu nhập và độ tuổi:

  • Nhóm người lao động có mức thu nhập ổn định trên 5 triệu đồng/tháng có điểm trung bình ý định tiếp tục tham gia cao hơn 34,2% so với nhóm có thu nhập dưới 3 triệu đồng/tháng.
  • Nhóm người tham gia từ 40 tuổi trở lên thể hiện ý định gắn kết dài hạn cao hơn 27,6% so với nhóm dưới 30 tuổi, cho thấy nhận thức phòng ngừa rủi ro tuổi già gia tăng rõ rệt theo thời gian.

Thảo luận kết quả

Thực tế dữ liệu cho thấy Truyền thông và Nhận thức về tính an sinh xã hội là hai yếu tố mang tính quyết định hàng đầu. Tại địa bàn nông thôn như huyện Ba Tri, người dân chỉ sẵn sàng tham gia và duy trì đóng phí dài hạn khi họ hiểu rõ bản chất an sinh là khoản đầu tư cho tương lai chứ không phải một khoản chi phí mất đi. Các kênh thông tin qua sinh hoạt đoàn thể cơ sở và hệ thống phát thanh truyền thanh huyện tạo ra sự lan tỏa niềm tin mạnh mẽ nhất.

Kết quả này hoàn toàn tương thích với các kết luận của Lin và Zhu (2006) tại thị trường Trung Quốc và Đặng Thị Ngọc Diễm (2010) tại Việt Nam về vai trò chủ đạo của truyền thông trong việc thúc đẩy tham gia bảo hiểm công. Yếu tố Thu nhập cũng khẳng định tính chất tiên quyết, phù hợp với nghiên cứu của Horng và Chang (2007) cũng như Lưu Thị Thu Thủy (2011), chứng minh rằng sự ổn định tài chính là điều kiện cần để người lao động phi chính thức trích 22% mức thu nhập tháng đóng vào quỹ hưu trí.

Dữ liệu nghiên cứu khi được tổng hợp qua bảng phân tích tương quan ma trận Pearson và bảng tham số hồi quy OLS đã chứng minh tính vững chắc của mô hình khi hệ số phóng đại phương sai (VIF) đều nhỏ hơn 2, hoàn toàn không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến. Kiểm định phương sai đồng nhất Levene trong phân tích ANOVA cũng xác nhận các giả định phân phối đều thỏa mãn, khẳng định độ tin cậy tuyệt đối của các kết luận thực nghiệm.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu định lượng, tác giả kiến nghị 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm phát triển và duy trì đối tượng tham gia BHXH tự nguyện trên địa bàn:

  1. Đổi mới và đa dạng hóa công tác truyền thông cơ sở: Cơ quan BHXH huyện Ba Tri chủ trì phối hợp với Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ và Đoàn Thanh niên tổ chức các hội nghị tư vấn đối thoại trực tiếp tại từng ấp, khu phố thuộc 23 xã, thị trấn. Mục tiêu là nâng tỷ lệ người dân nhận biết đầy đủ quyền lợi hưu trí lên trên 85% trong giai đoạn 2022-2025. Nội dung tuyên truyền cần làm nổi bật lợi ích kép: vừa có lương hưu hàng tháng vừa được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí chi trả 95% chi phí khám chữa bệnh.

  2. Linh hoạt hóa chính sách tài chính và hỗ trợ mức đóng: Ủy ban nhân dân huyện Ba Tri kiến nghị Hội đồng nhân dân tỉnh Bến Tre sử dụng ngân sách địa phương hỗ trợ thêm từ 10% đến 20% mức đóng cho người thuộc hộ cận nghèo và lao động nông nghiệp ngoài mức hỗ trợ của Trung ương. Đồng thời, ngành BHXH cần hướng dẫn người dân lựa chọn các phương thức đóng linh hoạt 3 tháng, 6 tháng hoặc 12 tháng một lần trùng với các kỳ thu hoạch lúa và đánh bắt thủy hải sản, giúp giảm thiểu áp lực tài chính định kỳ.

  3. Nâng cao năng lực và chuẩn hóa hệ thống đại lý thu: Cơ quan BHXH huyện phối hợp với hệ thống Bưu điện huyện Ba Tri tổ chức đào tạo, cấp chứng chỉ nghiệp vụ định kỳ hàng năm cho hơn 50 nhân viên đại lý thu tại các xã. Áp dụng quy trình chăm sóc khách hàng chủ động, liên hệ nhắc đóng phí trước 15 ngày khi đến hạn tái tục, đồng thời rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ và bàn giao sổ BHXH xuống dưới 3 ngày làm việc nhằm đạt tỷ lệ duy trì tham gia trên 95%.

  4. Ứng dụng công nghệ số và minh bạch thông tin tài khoản: Đẩy mạnh việc hướng dẫn người tham gia cài đặt và sử dụng ứng dụng VssID trên điện thoại thông minh. Thông qua nền tảng này, người lao động có thể tự tra cứu quá trình đóng, kiểm tra số tiền tích lũy và ước tính quyền lợi lương hưu tương lai một cách minh bạch, từ đó củng cố lòng tin tuyệt đối và giảm tỷ lệ ngừng đóng giữa chừng xuống dưới 3% mỗi năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn sâu sắc, phù hợp cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  1. Cơ quan Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh và huyện: Đặc biệt là cơ quan BHXH tại các tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Nghiên cứu cung cấp mô hình lượng hóa chuẩn xác giúp các nhà quản lý xây dựng kế hoạch truyền thông, phân bổ chỉ tiêu phát triển đối tượng phù hợp với đặc thù nhân khẩu học của từng địa phương ven biển.

  2. Chính quyền địa phương và các tổ chức chính trị - xã hội: Ủy ban nhân dân các cấp, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân có thể khai thác các phát hiện về mức độ ảnh hưởng xã hội để lồng ghép tiêu chí tỷ lệ bao phủ BHXH tự nguyện vào chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới nâng cao.

  3. Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh: Những người đang thực hiện đề tài trong các ngành Quản trị Kinh doanh, Quản lý công, Chính sách công và Kinh tế phát triển có thể tham khảo trọn vẹn quy trình nghiên cứu hỗn hợp, bộ thang đo Likert 25 biến quan sát và phương pháp phân tích EFA, hồi quy tuyến tính trên phần mềm SPSS.

  4. Các tổ chức bảo hiểm thương mại và tài chính vi mô: Các định chế tài chính muốn tiếp cận thị trường nông thôn có thể sử dụng dữ liệu về hành vi người tiêu dùng, rào cản thu nhập và tâm lý tích lũy phòng xa của người lao động tự do để thiết kế các gói sản phẩm bảo an, tiết kiệm vi mô phù hợp.

Câu hỏi thường gặp

  1. Kích thước mẫu 186 có đảm bảo độ tin cậy thống kê cho nghiên cứu không? Cỡ mẫu 186 hoàn toàn đáp ứng tốt các yêu cầu kiểm định định lượng. Theo nguyên tắc của Gorsuch (1983), cỡ mẫu cần tối thiểu gấp 5 lần số biến quan sát. Với 25 biến trong mô hình, kích thước mẫu tối thiểu là 125. Cỡ mẫu 186 của luận văn vượt 48,8% so với ngưỡng chuẩn, đảm bảo sai số chọn mẫu dưới 5% với độ tin cậy 95%.

  2. Yếu tố nào tác động mạnh mẽ nhất đến ý định tiếp tục đóng BHXH tự nguyện? Hoạt động truyền thông và Nhận thức về tính an sinh xã hội là hai yếu tố có trọng số tác động lớn nhất, chiếm hơn 50% tổng mức độ tác động của toàn bộ mô hình. Điều này chứng minh rằng việc truyền tải thông tin minh bạch và nâng cao nhận thức có sức ảnh hưởng vượt trội so với các yếu tố rào cản khác.

  3. Vì sao số người tham gia BHXH tự nguyện tại huyện Ba Tri đến cuối năm 2018 chỉ đạt 395 người? Số lượng tham gia thấp do 3 nguyên nhân chính: đa số lao động địa phương làm nghề tự do với thu nhập bấp bênh theo mùa vụ, thời gian đóng tối thiểu 20 năm khá dài khiến người dân e ngại, và công tác tuyên truyền giai đoạn 2008-2018 chưa tiếp cận sâu rộng đến từng hộ gia đình nông thôn.

  4. Mức đóng BHXH tự nguyện tối thiểu hàng tháng được tính toán như thế nào? Theo quy định pháp luật hiện hành, mức đóng hàng tháng bằng 22% mức thu nhập tháng do người tham gia lựa chọn. Mức thấp nhất bằng chuẩn nghèo nông thôn (tương đương mức đóng 154.000 đồng/tháng tại thời điểm khảo sát và có sự hỗ trợ một phần từ ngân sách Nhà nước), tạo điều kiện tối đa cho người thu nhập thấp tham gia.

  5. Mô hình nghiên cứu của đề tài có khả năng áp dụng cho các địa bàn khác không? Mô hình hoàn toàn có thể chuyển giao và áp dụng hiệu quả cho các huyện, thị xã khác trong tỉnh Bến Tre cũng như các tỉnh khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Các biến số về truyền thông, thu nhập và nhận thức an sinh xã hội phản ánh chính xác đặc điểm hành vi của lao động nông thôn Tây Nam Bộ.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về hành vi tiêu dùng dịch vụ an sinh xã hội thông qua việc tích hợp thành công hai mô hình TRA và TPB cùng các lý thuyết thái độ đa thuộc tính.
  • Đã kiểm định thành công mô hình nghiên cứu gồm 6 nhân tố tác động cùng chiều đến ý định tiếp tục tham gia BHXH tự nguyện trên mẫu khảo sát 186 người lao động tại huyện Ba Tri, với độ tin cậy Cronbach's Alpha và giá trị phương sai trích EFA đều đạt chuẩn mực cao.
  • Khẳng định vai trò chi phối của yếu tố Truyền thông và Nhận thức tính an sinh xã hội, đồng thời chỉ ra sự phân hóa rõ nét về ý định tham gia giữa các nhóm thu nhập và độ tuổi trên địa bàn nghiên cứu.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm hàm ý quản trị có tính khả thi cao, gắn liền với lộ trình triển khai từ năm 2022 đến năm 2025 nhằm hoàn thiện chính sách hỗ trợ tài chính, nâng cao chất lượng đại lý thu và đẩy mạnh số hóa quy trình quản lý.
  • Nghiên cứu là tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà hoạch định chính sách; các cơ quan chức năng cần nhanh chóng triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm mở rộng lưới an sinh xã hội, hướng tới mục tiêu bao phủ bảo hiểm xã hội toàn dân bền vững.