chương 1 là cơ sở cho các chương sau thì chương 2 chính là cơ sở để xây dựng nên mô hình nghiên cứu. Trong chương 2, tác giả liệt kê các cơ sở lý luận và thành quả của các nghiên cứu trước, việc kế thừa có chọn lọc kết hợp với thực tiễn, tác giả đúc kết và xây dựng nên mô hình chính của bài nghiên cứu, đưa ra các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ VĐT của khách hàng. Một số khái niệm liên quan đến đến đề tài 2. Khái niệm Ví điện tử Ngân hàng Nhà nước (2013) đưa ra định nghĩa VĐT là dịch vụ cung cấp cho khách hàng một tài khoản điện tử định danh do các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ tạo lập trên một vật mang tin (như chip điện tử, sim điện thoại di động, máy chủ ), cho phép lưu trữ một giá trị tiền tệ được đảm bảo bằng giá trị tiền mặt tương đương và được sử dụng để thanh toán thay thế cho tiền mặt.
Theo công ty chuyển mạch tài chính Quốc gia (Banknetvn), VĐT là một tài khoản điện tử, nó giống như “ví tiền” của người d ng trên internet và đóng vai trò như 1 chiếc ví tiền mặt trong thanh toán trực tuyến, giúp người d ng thực hiện công việc thanh toán các khoản phí trên internet, gửi tiền một cách nhanh chóng, đơn giản và tiết kiệm cả về thời gian, công sức lẫn tiền bạc. Theo Caldwell (2012), VĐT là tài khoản điện tử trên nền tảng ứng dụng công nghệ (điện thoại di động/ máy tính) có thể được sử dụng để lưu trữ và chuyển giao giá trị và có chức năng thay thế ví tiền thông thường. Nó cũng giúp quản lý thông tin thanh toán của người d ng và xem lịch sử giao dịch. VĐT có các phương thức giao dịch khác nhau với đối tượng phục vụ là khách hàng cá nhân, khách hàng doanh nghiệp.
Là một ứng dụng đa chức năng, VĐT cũng có thể hỗ trợ các yếu tố khác nhau như thẻ thành viên, khách hàng thân thiết, tài khoản mua sắm trực tuyến và chi tiết đặt phòng. Ngoài ra, VĐT lưu trữ thông tin cá nhân và thông tin nhạy cảm như hộ chiếu, thông tin thẻ tín dụng và mã PIN ở định dạng được mã hóa hoặc bảo vệ bằng mật khẩu. 12 Tóm lại VĐT là có thể được hiểu là phương thức thanh toán không d ng d ng tiền mặt được sử dụng thông qua các kênh phân phối điện tử dựa trên nền tảng internet trên điện thoại di động/ máy tính. Hành vi tiêu dùng Theo Philip Kotler (2005), hành vi người tiêu d ng được định nghĩa là “Một tổng thể những hành động diễn biến trong suốt quá trình kể từ khi nhận biết nhu cầu cho tới khi mua và sau khi mua sản phẩm/ dịch vụ”.
Nói cách khác, hành vi của người tiêu d ng là cách thức các cá nhân ra quyết định sẽ sử dụng các nguồn lực sẵn có của họ như: thời gian, tiền bạc, nỗ lực, như thế nào cho các sản phẩm/ dịch vụ sử dụng. Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ, hành vi người tiêu d ng chính là sự tác động qua lại giữa các yếu tố kích thích của môi trường với nhận thức và hành vi của con người, mà qua sự tương tác đó, con người thay đổi cuộc sống của họ. Theo cách định nghĩa này, khái niệm hành vi người tiêu d ng được nhìn dưới góc độ tính tương tác, tác động qua lại lẫn nhau giữa con người và môi trường bên ngoài. Hành vi tiêu d ng còn được định nghĩa là “một cam kết sâu sắc để mua lặp lại, bảo hành một sản phẩm ưa thích hoặc dịch vụ trong tương lai”.
Vì vậy, sự hiểu biết về các yếu tố quyết định trong việc “giữ chân khách hàng” có thể tạo thuận lợi cho người quản lý tập trung vào những yếu tố chính dẫn đến hành vi tiêu d ng của khách hàng. Chất lượng, giá trị nhận thức và sự hài lòng đều đã được chứng minh là yếu tố dự báo tốt về ý định hành vi (Petrick, 2004). Nhìn chung, tất cả các định nghĩa về hành vi người tiêu d ng đều tập trung vào các khía cạnh quá trình nhận biết, thu thập thông tin, đánh giá mua hàng, phản ứng sau mua của người tiêu d ng, và mối quan hệ biện chứng giữa quá trình đó với các yếu tố bên ngoài tác động trực tiếp, gián tiếp vào nó. Các lý thuyết liên quan ý định hành vi 2.
Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action) Thuyết hành động hợp lý của Fishbein & Ajzen (1975) là một mô hình tâm lý xã hội nhằm xác định những yếu tố quyết định những hành vi dự định có ý thức của một người. 13 Theo mô hình TRA thì những hành động cụ thể của một người được xác định dựa trên những hành vi dự định (Behavioral Intention) mà họ sẽ căn cứ vào đó để thực hiện thành những hành vi cụ thể và các yếu tố quyết định là thái độ của người đó (Attitude) và Chuẩn mực chủ quan (tập tục/ Subjective Norms) (Davis & cộng sự, 1989).1: Mô hình Thuyết hành động hợp lý - TRA (Nguồn: Fisbein & Ajzen, 1975) Thái độ của một người chính là những niềm tin của họ về kết quả sẽ nhận được khi thực hiện hành vi và những đánh giá của họ về kết quả của hành vi đó (Fishbein & Ajzen 1975). Chuẩn chủ quan là những niềm tin về chuẩn mực chung của một người và động lực để họ thực hiện hay không thực hiện những chuẩn mực đó dựa trên kỳ vọng của một cá nhân hay nhóm ảnh hưởng nào đó (Fishbein & Ajzen, 1975). Hành vi dự định d ng để xác định sức mạnh của ý định thực hiện một hành vi cụ thể: BI = A + SN (Fishbein & Ajzen, 1975).
Ưu điểm: Trong số các lý thuyết cổ điển giải thích hành vi của con người liên quan đến việc áp dụng các công nghệ mới là Thuyết hành động hợp lý - TRA, thuyết này được phát triển bởi Ajzen & Fishbein (1975) và đã được áp dụng rộng rãi như là khuôn khổ lý thuyết chính để hiểu và giải thích hành vi chấp nhận và sử dụng các hệ thống thông tin khác nhau của con người. Do đó đây là tiền đề giải thích hành vi chấp nhận thanh toán trực tuyến nói chung và hành vi sử dụng VĐT nói riêng. 14 Nhược điểm: Mô hình TRA là một mô hình tổng quát, tuy nhiên mô hình này chủ yếu d ng để dự báo hành vi chứ không xác định được kết quả của các hành vi (Foxall, 1997). Những nghiên cứu viên khi sử dụng mô hình này cần phải xác định những niềm tin chính liên quan đến những hành vi mà nghiên cứu viên muốn điều tra khảo sát (Davis & cộng sự, 1989).
Ngoài ra mô hình TRA trong nghiên cứu hành vi chấp nhận công nghệ còn có những yếu tố bên ngoài có thể tác động gián tiếp đến hành vi của một người thông qua thái độ hay chuẩn chủ quan như: Đặc điểm thiết kế của hệ thống, đặc điểm của người d ng, văn hóa tổ chức. Thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behavior ) Thuyết hành vi dự định của Ajzen (1991) là một mô hình mở rộng của mô hình TRA. Mô hình được đưa ra nhằm giải quyết những giới hạn của mô hình TRA trong trường hợp mà một người có thể hoàn toàn kiểm soát ý muốn của họ. Trong mô hình TPB, Ajzen đưa thêm vào yếu tố kiểm soát hành vi cảm nhận (perception of behavioral control) tác động đến hành vi dự định và cả hành vi cụ thể của một người.2: Mô hình thuyết hành vi dự định - TPB (Nguồn: Ajzen, 1991) Yếu tố niềm tin về sự tự chủ là niềm tin về sự hiện hữu (hay không hiện hữu) của những nhân tố mà nó có thể thúc đẩy hay ngăn cản việc thực hiện các hành vi (Ajzen, 1991).
Khi một cá nhân sở hữu nhiều nguồn lực và những trở ngại mong đợi (hay không mong đợi) mà cá nhân đó gặp phải càng ít thì cá nhân đó có thể kiểm soát hành vi của mình một cách dễ dàng (Ajzen, 1991). Eagly & Chaiken (1993) cũng đã khẳng định rằng có mối quan hệ nhân 15 quả giữa PBC và hành vi dự định, điều này có nghĩa là một cá nhân chỉ thực hiện hành vi khi họ tin rằng mình có khả năng đạt được điều đó. Ưu điểm: TPB đã được phát triển như là một phần mở rộng của Ajzen & Fishbein (1980) lý thuyết hành động hợp lý (TRA). TRA được hình thành như một cấu trúc chung được thiết kế để giải thích cho hầu hết các hành vi của con người và dựa trên tầm quan trọng của niềm tin của một cá nhân đối với việc dự đoán hành vi của mình (Fishbein & Ajzen, 1975; Ajzen & Fishbein, 1980).
Khái niệm cơ bản là cá nhân đưa ra các quyết định hợp lý và có hệ thống trên cơ sở các thông tin có sẵn cho họ (Ajzen, 1991). Nhiều nghiên cứu hiện tại trong bối cảnh kinh doanh điện tử đã cho thấy thái độ của cá nhân trực tiếp và ảnh hưởng đáng kể tới ý định hành vi sử dụng một ứng dụng kinh doanh điện tử cụ thể (George, 2002; Gribbins & cộng sự, 2003, Moon & Kim, 2001). Ví dụ, George (2002) đã tìm thấy một mối quan hệ tích cực mạnh mẽ giữa thái độ của một cá nhân đối với mua hàng trực tuyến và ý định hành vi của người d ng. Gribbins et al.
(2003) đã nghiên cứu việc chấp nhận các công nghệ không dây của người dùng. Ngoài ra, Puschel et al. (2010) nhận thấy rằng thái độ ảnh hưởng đáng kể đến ý định sử dụng ngân hàng di động. Do đó đây là mô hình được tác giả lựa chọn làm tiền đề giải thích hành vi chấp nhận thanh toán trực tuyến nói chung và hành vi sử dụng VĐT nói riêng.
Nhược điểm: Mô hình TBP không tìm thấy lời giải thích hoặc tiên đoán chính xác về hành vi (Chen & cộng sự, 2007; Taylor & Todd, 1995; Venkatesh & cộng sự, 2003). Do đó, các nhà nghiên cứu thường kết hợp TPB và TAM để kiểm tra việc áp dụng công nghệ (Aboelmaged, 2010; Chau & Hu, 2002; Chen & cộng sự, 2007; Hung et. al, 2006; Lu et al, 2009; Wu & Chen, 2005). Sự kết hợp này đã được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng trong phân tích đánh giá hành vi sử dụng VĐT của khách hàng cá nhân như Puschel et al.
(2010); Paul Gerhardt Schierz, Oliver Schilke & Bernd W.