Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị 8 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Một số khái niệm nghiên cứu 2.1 Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp Có rất nhiều cách hiểu về TNXH, nhưng rõ ràng TNXH đề cập đến trách nhiệm xã hội của một doanh nghiệp. Carroll (1999), dưới sự bảo trợ của Ủy ban Phát triển Kinh tế (Allen, 1971), đã xem xét tổng quan toàn diện nhất về định nghĩa phát triển của các học giả TNXH từ năm 1950 đến giữa những năm 1990. Một số học giả nổi tiếng bao gồm Bowen (1953), Davis (1967), Morrell (1970), Sethi (1975), Wood (1991a, 1991b) và Frederick (1994).
Carroll (1999) lưu ý rằng các chức năng kinh doanh bằng sự đồng ý của công chúng và mục đích cơ bản là phục vụ nhu cầu và sự hài lòng của xã hội một cách xây dựng. Trong những thập kỷ gần đây, khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (TNXH) không còn đồng nhất. Tuy nhiên, nó đã phát triển và thay đổi do những thay đổi đã xảy ra trên toàn thế giới trong thời gian qua, chẳng hạn như toàn cầu hóa, ảnh hưởng đến chính trị và cộng đồng doanh nghiệp, và các vấn đề mà các doanh nghiệp phải đối mặt xung quanh trách nhiệm xã hội của họ (Carroll, 1991; Lohman và Steinholtz, 2003). Theo Friedman (1970), TNXH là một công cụ mà các tổ chức sử dụng để đạt được các mục tiêu kinh tế và xã hội.
Ông kết luận thêm rằng các hoạt động TNXH đã giúp nhiều doanh nghiệp xây dựng hình ảnh xã hội tích cực, đồng thời, cải thiện đáng kể lợi thế cạnh tranh. Một đánh giá quan trọng về các tài liệu hiện có về lĩnh vực quan tâm hiện tại cho thấy không có định nghĩa duy nhất được chấp nhận rộng rãi về TNXH (Chan, 2014). Và thường được định nghĩa theo ngữ cảnh. Tuy nhiên, cả trong lĩnh vực kinh doanh thực tế và học thuật, TNXH được chấp nhận như một lý thuyết liên quan đến quản lý chiến lược: quản lý các mối quan tâm về kinh tế, xã hội và môi trường - tức là cùng với việc đạt được lợi nhuận kinh tế, xem xét đáng kể các nghĩa vụ xã hội và môi trường, và tiếp tục tương tác với tất cả các bên liên quan để nhận thức được kỳ vọng của họ và hỗ trợ phù hợp để có ảnh hưởng rõ ràng đến xã hội (Chan, 2014).
Alqoud (2016) đã định nghĩa TNXH là một chuỗi các bước hành chính được xác định trước để đạt được một bộ mục tiêu theo kế hoạch có thể thiết lập mối quan hệ giữa một tổ chức và công dân. Ngân hàng Thế giới tuyên bố rằng TNXH là một cam kết kinh doanh góp phần phát triển kinh tế và xã hội (Chung và cộng sự, 2015). TNXH được định nghĩa là một 9 thỏa thuận bất thành văn giữa doanh nghiệp và xã hội, nơi các tổ chức cố gắng tạo ấn tượng thuận lợi cho các bên liên quan để gặt hái những lợi ích tiềm năng (Zaid và Al- Manasra, 2013). TNXH là một yếu tố thiết yếu trong hoạt động của doanh nghiệp, trong đó các doanh nghiệp tự nguyện đóng góp cho xã hội về môi trường, kinh tế và xã hội và đạo đức (Kanji và Chopra, 2010).
Đây là một lĩnh vực chiến lược cho các doanh nghiệp trong đó niềm tin có thể được xây dựng giữa xã hội và doanh nghiệp (Woo và Jin, 2016). Theo McWilliams và Siegel (2001), TNXH là một hành động thực hiện để thúc đẩy một số lợi ích xã hội, vượt ra ngoài lợi ích của doanh nghiệp và xã hội theo yêu cầu của pháp luật. Dahlsrud (2008) đã phân tích một số định nghĩa và suy luận rằng TNXH là thực tiễn thông qua đó các doanh nghiệp cố gắng cải thiện tất cả hành động liên quan đến năm khía cạnh tổ chức: các bên liên quan, xã hội, kinh tế, tự nguyện và môi trường. Theo Maignan và Ferrell (2000), TNXH là hành động của các doanh nghiệp được thực hiện để đáp ứng các trách nhiệm kinh tế, pháp lý, đạo đức và tùy ý được áp đặt bởi các bên liên quan.
Trách nhiệm kinh tế đề cập đến việc tạo ra lợi nhuận và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, và trách nhiệm pháp lý của các doanh nghiệp là hoàn thành các hoạt động và sứ mệnh kinh tế của họ trong khuôn khổ pháp lý. Đối với trách nhiệm đạo đức, các doanh nghiệp có nghĩa vụ tuân theo các quy tắc đạo đức xác định các hành vi phù hợp trong xã hội. Cuối cùng, trách nhiệm tùy ý là những hành động kinh doanh không bắt buộc nhưng được các bên liên quan dự đoán là bằng chứng về quyền công dân tốt (Galbreath, 2010). Định nghĩa hoạt động của TNXH tập trung vào khuôn khổ quản lý các bên liên quan hơn là xã hội nói chung (Maignan và Ferrell, 2000) vì điều này xác định rằng các doanh nghiệp có trách nhiệm với các bên liên quan của họ.
Các bên liên quan là những người có lợi ích được liên kết với các doanh nghiệp và họ có thể là cổ đông, nhân viên, nhà đầu tư, nhà cung cấp và khách hàng. Chính phủ cũng là các bên liên quan vì họ cung cấp cơ sở hạ tầng và luật pháp của họ phải được tuân thủ. Cộng đồng và thậm chí cả môi trường tự nhiên cũng là các bên liên quan. Clarkson (1995) ủng hộ rằng sự tồn tại của doanh nghiệp dựa trên việc đáp ứng nhu cầu và dự đoán của các bên liên quan chính bởi vì các bên liên quan này cung cấp các nguồn lực quan trọng, thay vì các bên liên quan 'thứ cấp' (như truyền thông) và không tham gia vào các giao dịch với doanh nghiệp.
Do đó, Maignan và Ferrell (2000) đã không xem xét các bên liên quan thứ cấp trong định nghĩa hoạt động về TNXH vì các bên liên quan thứ cấp không liên quan cũng như không cần thiết cho sự sống còn của doanh nghiệp. 10 Như đã đề cập ở trên, TNXH là một trong những chủ đề được các nhà nghiên cứu rất quan tâm và họ cũng đưa ra quan điểm cá nhân về TNXH trong nghiên cứu của mình. Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả dựa trên khái niệm TNXH của Maignan và cộng sự, dựa trên quan điểm của Carroll về thành phần cấu tạo của TNXH. Theo khái niệm này, “TNXH của một doanh nghiệp là mức độ mà doanh nghiệp đó đáp ứng những trách nhiệm về kinh tế, luật pháp, đạo đức và những trách nhiệm mang tính tình nguyện khác mà những người liên quan mong đợi ở họ” (Maignan và cộng sự, 1999, Maignan và Ferrell, 2000, Maignan và Ferrell, 2001, Galbreath, 2010).
Trong đó, Maignan và cộng sự cho rằng TNXH là mức độ đáp ứng với đòi hỏi của xã hội nói chung, như vậy, khái niệm này đã bao hàm sự thực hiện TNXH của doanh nghiệp. Nói cách khác, khái niệm TNXH cũng chính là khái niệm thực hiện TNXH.2 Các thành phần trách nhiệm xã hội doanh nghiệp Các thành phần TNXH do Carroll (1979, 1991) đưa ra nêu rõ rằng TNXH bao gồm bốn trách nhiệm lớn. Những trách nhiệm này là kinh tế, pháp lý, đạo đức, tự nguyện hoặc từ thiện. Trách nhiệm kinh tế và pháp lý là điều cần thiết cho các doanh nghiệp để thực hiện các mục tiêu kinh doanh trong khi trách nhiệm đạo đức và từ thiện là những yếu tố mong đợi của xã hội từ doanh nghiệp.
Trong bối cảnh này, Brown (1998) đã đặt ra câu hỏi, "Hoạt động xã hội có thể tốt cho xã hội, nhưng có trả tiền không?" cùng với vấn đề quan trọng về cách tiếp cận của các tổ chức kinh doanh đối với TNXH. Hơn nữa, TNXH được định nghĩa là các chính sách và hành động của một tổ chức nhằm đáp ứng kỳ vọng của các bên liên quan đối với ba điểm mấu chốt của hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường (Aguilera và cộng sự, 2007).3 Lợi ích thực hiện trách nhiệm xã hội doanh nghiệp Những lợi ích chính của TNXH có thể được phân loại là những lợi ích có lợi cho doanh nghiệp áp dụng và những lợi ích có lợi cho nhân viên (Alqoud, 2016). Thứ nhất, TNXH mang lại lợi ích cho doanh nghiệp bằng cách khuyến khích quá trình ra quyết định dựa trên sự hiểu biết tốt hơn về nguyện vọng và cơ hội của xã hội liên quan đến trách nhiệm xã hội và rủi ro của trách nhiệm xã hội. Ngoài ra, TNXH mang lại lợi ích cho doanh nghiệp bằng cách chăm sóc nhân viên mới quan tâm đến nơi làm việc thông qua các hoạt động có TNXH cải thiện mối quan hệ của tổ chức với tất cả các bên liên quan.
TNXH cũng làm tăng tính sáng tạo liên quan đến việc giảm sử dụng nguyên liệu thô và bất cứ thứ gì có hại cho xã hội, cải thiện hiệu suất môi trường 11 và giảm phát thải khí gây biến đổi khí hậu và sử dụng hóa chất, và góp phần vào khả năng tồn tại lâu dài của tổ chức bằng cách thúc đẩy các dịch vụ môi trường và tính bền vững của tài nguyên thiên nhiên. Thứ hai, đối với nhân viên, TNXH sẽ cung cấp sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống, nâng cao tinh thần của nhân viên, cải thiện sức khỏe và sự an toàn của nhân viên ở cả hai giới và ảnh hưởng tích cực đến việc tuyển dụng, tạo động lực và giữ chân. TNXH cũng làm tăng đáng kể sự tham gia của nhân viên, giảm sự vắng mặt của nhân viên, tăng khả năng giữ chân nhân viên và giảm chi phí tuyển dụng và đào tạo. Thứ ba, đối với doanh nghiệp, TNXH có thể giúp doanh nghiệp tăng giá trị thương hiệu và uy tín, góp phần nâng cao giá trị doanh nghiệp trong lòng khách hàng, và đối tác,… Doanh nghiệp mở rộng cánh cửa năng lực cạnh tranh khi mà đặt lên bàn cân hai doanh nghiệp những điểm mạnh và yếu tương tự nhau, nhưng doanh nghiệp nào tốt hơn về mặt thực hiện TNXH - cam kết một sự phát triển tốt đẹp và bền vững.
Bên cạnh đó, Đầu tư, phát triển cộng đồng địa phương giúp cho doanh nghiệp, ngân hàng có được một vị trí trong lòng người dân, những khách hàng hiện hữu và khách hàng tiềm năng của doanh nghiệp, tạo mối quan hệ tốt với chính quyền địa phương từ đó việc kinh doanh thuận lợi hơn, gia tăng lợi nhuận cho tổ chức.