CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH QUỐC TẾ CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm kinh doanh quốc tế Kinh doanh (business) theo cách hiểu thông thường là việc thực hiện các hoạt động sản xuất, mua bán, trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi. Theo Luật doanh nghiệp Việt Nam số 60/2005/QH11, kinh doanh được định nghĩa là “việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”. Qua định nghĩa trên, ta có thể thấy kinh doanh cơ bản là hoạt động đầu tư nhằm thu được lợi nhuận từ hoạt động đầu tư đó.
Hoạt động kinh doanh cũng có thể là những hoạt động kinh doanh đơn giản, nhỏ lẻ như một quán nước, một quán phở bên đường và cũng có thể là những hoạt động kinh doanh quy mô lớn như một nhà máy sản xuất thép cán, một nhà máy lọc dầu hay một hệ thống siêu thị. Kinh doanh quốc tế (international business), hiểu đơn giản, là “việc thực hiện hoạt động đầu tư vào sản xuất, mua bán, trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi có liên quan tới hai hay nhiều nước và khu vực khác nhau”. Dựa vào định nghĩa của kinh doanh, ta có thể định nghĩa Kinh doanh quốc tế là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến thương mại hàng hóa và dịch vụ trên các thị trường vượt qua biên giới của hai hay nhiều quốc gia vì mục đích sinh lợi. Kinh doanh quốc tế cũng có thể những hoạt động đơn thuần liên quan tới việc xuất khẩu hay nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ của một công ty.
Nhưng cũng có thể kinh doanh quốc tế là những mạng lưới kinh doanh đa quốc gia, hoặc xuyên quốc gia hoặc trên phạm vi toàn cầu. Những mạng lưới này có hệ thống quản trị và kiểm soát rất phức tạp mà hoạt động đầu tư vào sản xuất được quyết định ở một nơi, hệ thống phân phối và tiêu dùng lại được phát triển ở một khu vực khác trên thế giới. Kinh doanh quốc tế giúp các quốc gia tham gia vào quá trình liên kết kinh tế, phân phối lao động xã hội, hội nhập vào thị trường toàn cầu. Thị trường thế giới có 7 vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của quốc gia.
Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tham gia vào sự phân công lao động quốc tế và sự trao đổi mậu dịch quốc tế giúp nền kinh tế quốc gia mở cửa, tạo cầu nối giữa nền kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới, biến nền kinh tế thế giới thành nơi cung cấp các yếu tố đầu vào và các yếu tố đầu ra cho quốc gia. Thâm nhập thị trường thế giới giúp các doanh nghiệp khai thác các lợi thế so sánh của mỗi quốc gia, mở rộng quy mô các ngành sản xuất, tạo điều kiện xây dựng các ngành kinh tế mũi nhọn, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và hạ giá thành, thúc đẩy khai thác các nhân tố tăng trưởng, trao đổi và ứng dụng nhanh chóng các công nghệ mới, thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài, nâng cao tốc độ tăng trưởng và hiệu quả của nền kinh tế quốc dân. Kinh doanh quốc tế liên quan tới hoạt động kinh doanh trên phạm vi quốc tế, có thể là từ hai nước trở lên có thể liên quan tới một số hay nhiều nước trên phạm vi toàn cầu. Kinh doanh quốc tế bị tác động và ảnh hưởng lớn bởi các tiêu chí và các biến số có tính môi trường quốc tế, chẳng hạn như hệ thống luật pháp của các nước, thị trường hối đoái, sự khác biệt trong văn hóa hay các mức lạm phát khác nhau giữa các nước.
Đôi khi những tiêu chí hay biến số này gần như không ảnh hưởng hay có tác động nhiều đến hoạt động kinh doanh nội địa của một doanh nghiệp. Chúng ta cũng có thể nói rằng kinh doanh nội địa là một trường hợp đặc biệt hạn chế của kinh doanh quốc tế. Một đặc điểm nổi bật khác của kinh doanh quốc tế đó là các hãng quốc tế hoạt “ động trong một môi trường có nhiều biến động và luật chơi đôi khi có thể rất khó hiểu, có thể đối lập với nhau khi so sánh với kinh doanh nội địa. Trên thực tế, việc thực hiện các hoạt động kinh doanh quốc tế thực sự không giống như chơi một trò bóng mới mà giống như chơi nhiều trò bóng khác nhau mà trong đó nhà quản trị quốc tế phải học được các yếu tố đặc thù trên sân chơi.
Các nhà quản trị rất nhanh nhạy trong việc tìm ra những hình thức kinh doanh mới đáp ứng được sự thay đổi của chính phủ nước ngoài về các lĩnh vực ưu tiên, và từ đó tạo lập được các lợi thế cạnh tranh hơn so với các đối thủ cạnh tranh kém nhanh nhạy hơn. ” 8 Các nguyên tắc chủ đạo đối với một doanh nghiệp khi tham gia vào hoạt động kinh doanh quốc tế luôn phải có cách tiếp cận toàn cầu. Các nguyên tắc chủ đạo của “ một doanh nghiệp có thể được định nghĩa liên quan tới ba mảng chính, đó là sản phẩm cung cấp trong mối quan hệ với phục vụ thị trường nào, các năng lực chủ chốt và các kết quả. Khi xây dựng các kế hoạch kinh doanh quốc tế, các hãng phải ra các quyết định liên quan tới việc trả lời câu hỏi: Hãng sẽ bán sản phẩm gì cho ai? Và hãng có thể có được nguồn cung ứng từ đâu và cung ứng như thế nào? Đó là hai câu hỏi liên quan tới Marketing và Sourcing (thị trường sản phẩm đầu ra và thị trường sản phẩm đầu vào).
Sau khi ra được các quyết định trên, hãng cần phải cụ thể hóa ” các vấn đề liên quan tới nguồn nhân lực, quản trị, tính sở hữu và tài chính để trả lời câu hỏi: Với nguồn lực nào hãng sẽ triển khai các chiến lược trên? Nói một cách khác, hãng sẽ phải tìm ra nguồn nhân lực phù hợp, khả năng chịu rủi ro và nguồn lực tài chính cần thiết. Tiếp đến là vấn đề liên quan tới làm thế nào để có thể kiểm soát và xây dựng được cơ cấu tổ chức phù hợp để triển khai thực hiện những vấn đề trên. Và cuối cùng một nội dung liên quan tới quan hệ công chúng, cộng đồng cũng cần hãng phải quan tâm khi triển khai kế hoạch kinh doanh quốc tế của mình. Các hình thức kinh doanh quốc tế 1.
Nhượng quyền Nhượng quyền kinh doanh là việc cho phép một cá nhân hay tổ chức (Gọi là bên nhận nhượng quyền) được kinh doanh hàng hoá hay dịch vụ theo hình thức và phương pháp kinh doanh đã được thử thách trong thực tế của bên nhượng quyền ở một điểm, tại một khu vực cụ thể nào đó trong một thời hạn nhất định để nhận một khoản phí hay một tỷ lệ phần trăm nào đó từ doanh thu hay lợi nhuận. Có thể phân loại các hình thức của nhượng quyền theo các tiêu chuẩn sau: - Căn cứ theo tính chất Nhượng quyền đơn nhất hay nhượng quyền trực tiếp (Unit franchising): Được áp dụng khi bên nhượng quyền và bên nhận nhượng quyền cùng hoạt động trong phạm vi một quốc gia nhằm đảm bảo quyền kiểm soát của bên nhượng quyền đối với việc tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của bên nhận quyền. 9 Nhượng quyền mở rộng (Franchise developer agreement): Bên nhượng quyền trao cho bên nhận quyền trách nhiệm mở rộng điều hành một số lượng đơn vị kinh doanh theo đúng thỏa thuận phạm vi một lãnh thổ nhất định và không được nhượng quyền cho bên thứ ba. Nhượng quyền khởi phát (Nhượng quyền phụ - Master franchise): Mang tính chất quốc tế.
Nghĩa là bên nhượng quyền và bên nhận quyền đều ở các quốc gia khác nhau. - Căn cứ theo hình thức hoạt động Nhượng quyền sản xuất (Processing franchise): Cho phép bên nhận quyền được sản xuất và cung cấp ra thị trường các hàng hóa mang nhãn hiệu của bên nhượng quyền. Nhượng quyền dịch vụ (Service franchise): Là nhượng quyền trong lĩnh vực hoạt động có tính chất dịch vụ như: Sữa chữa, bảo dưỡng ô tô, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ cung cấp thẻ tín dụng, như hệ thống nhà hàng VESPUCCI bán thức ăn Italia,. Nhượng quyền phân phối (Distribution franchise): Mối quan hệ giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền có những điểm gần giống nhau như mối quan hệ giữa nhà sản xuất và nhà phân phối, tức là bên nhượng quyền sản xuất ra các sản phẩm sau đó bán lại sản phẩm cho bên nhận quyền và bên nhận quyền sẽ phân phối trực tiếp sản phẩm tới người tiêu dùng dưới thương hiệu của bên nhượng quyền.
Là hình thức khá phổ biến được nhiều doanh nghiệp lựa chọn, Nhượng quyền có một số ưu điểm như sau: + Đối với Franchisor (Nhượng quyền) Mở rộng được quy mô kinh doanh và hệ thống phân phối một cách nhanh “ nhất. Giảm chi phí phát triển thị trường, nguồn thu ổn định từ khoản phí nhượng quyền. - Tạo dựng cho một hệ thống liên kết mạnh về thương mại và tài chính. - Thâm nhập và thăm dò hiệu quả đầu tư trên các thị trường mới một cách nhanh chóng với chi phí rủi ro thấp nhất .” 10 Tận dụng nguồn lực “địa phương” để thâm nhập hiệu quả vào thị trường nội địa của các quốc gia đang phát triển mà không phải đối mặt với bất kỳ một rào cản thương mại hoặc pháp lý nào.
+ Đối với Franchisee (Nhận nhượng quyền) Kinh doanh một thương hiệu có uy tín với số vốn đầu tư nhỏ hơn nhiều so với việc xây dựng được 1 thương hiệu tương đương. Giảm thiểu các rủi ro do không phải đầu tư xây dựng một thương hiệu mới. Sản phẩm, dịch vụ và hệ thống hoạt động được chuẩn hóa. Hệ thống tài chính và số sách kế toán được thực hiện theo một chuẩn mực.
- Được đào tạo, huấn luyện về quản lý và kinh doanh. Hỗ trợ từ các chương trình tiếp thị và khuyến mãi của thương hiệu. Quảng cáo tại nơi bán hàng. Bên cạnh đó, nhượng quyền cũng có một số nhược điểm sau + Đối với Franchisor (Nhượng quyền) Mất quyền kiểm soát và quyền năng trong kinh doanh.
Sự tranh chấp của các cơ sở kinh doanh. - Thiên vị cho một bên nhận nhượng quyền nào đó. - Hoạt động không kém của một đơn vị sẽ ảnh hưởng đến uy tín thương hiệu. + Đối với Franchisee (Nhận nhượng quyền) Không phải là thương hiệu riêng của mình.