Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu Trình bày tóm lược lý do chọn đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, các vấn đề cần nghiên cứu đồng thời giới thiệu tổng quan về phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khi thực hiện đề tài và kết cấu nghiên cứu. - Chương 2: Cơ sở lý thuyết Tổng hợp cơ sở lý luận khoa học, những nghiên cứu thực nghiệm trong nước và các nước trên thế giới về ý định tham gia phương thức học trực tuyến. - Chương 3: Thiết kế nghiên cứu Trình bày phương pháp nghiên cứu, định nghĩa, giải thích các biến độc lập và biến phụ thuộc trong mô hình. Bên cạnh đó phương pháp khảo sát, bảng câu hỏi cũng được trình bày cụ thể trong chương này.
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Trình bày kết quả phân tích dữ liệu, kiểm định thang đo, kiểm định giả thuyết, phân tích nhân tố bằng phương pháp hồi quy đa biến. - Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị Trong chương cuối, nghiên cứu trình bày những phát hiện mới của mô hình. Căn cứ kết quả thực nghiệm được trình bày trong chương 4, kết hợp kết quả các nghiên 5 cứu trước, tác giả phân tích những điểm khác biệt so với nghiên cứu trước. Từ đó đề xuất các hàm ý quản trị cho các tổ chức giáo dục có đào tạo trực tuyến.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này trình bày cơ sở lý thuyết và một số nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến đề tài làm cơ sở hình thành mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động ý định tham gia khóa học ngắn hạn trực tuyến tại Thành phố Hồ Chí Minh.1 Ý định Ý định là một khái niệm được sử dụng để diễn tả các yếu tố ảnh hưởng đến một hành vi mong muốn (Ajzen, 1991). Ý định là sự thể hiện nhận thức sẵn sàng của một người để thực hiện một hành vi nhất định và nó được coi là tiền đề của hành vi thực tế. Ý định cho biết mức độ mà một cá nhân muốn nỗ lực bao nhiêu để thực hiện hành vi đó. Mọi người sẽ xem xét tác động của hành vi thực tế trước khi quyết định tham gia hoặc không tham gia vào một hành vi nhất định.
A L Warshaw (1985) cho rằng ý định là "mức độ mà một người lập ra các kế hoạch có ý thức để thực hiện hoặc không thực hiện một số hành vi được chỉ định trong tương lai". Khái niệm ý định học tập đề cập đến sự sẵn sàng hoặc kế hoạch của một người để vượt qua những thiếu hụt về kiến thức hiện tại, kỹ năng có liên quan đến công việc của họ với những yêu cầu hoặc mong muốn thông qua giáo dục hoặc đào tạo (Kyndt, Eva, et al, 2011). Như vậy, ý định biểu thị tính sẵn sàng của mỗi người khi thực hiện một hành vi đã định và nó được xem là tiền đề trực tiếp dẫn đến hành vi. Ý định học tập trực tuyến là sự sẵn sàng hoặc kế hoạch bỏ ra chi phí của một người thông qua việc học tập trực tuyến được cung cấp bởi các tổ chức giáo dục.2 Học tập trực tuyến (E-learning) Theo những nghiên cứu trước đây thì E-learning là viết tắt của Electronic Learning, dùng để mô tả việc học tập, đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông (Information Communication Technology – ICT) mà đặc biệt là công nghệ thông tin.
Có thể hiểu đơn giản rằng, eLearning là phương thức học tập ảo thông qua các thiết bị có kết nối Internet đối với một máy chủ ở nơi khác có lưu trữ sẵn bài 7 giảng điện tử và phần mềm cần thiết để cung cấp các khoá học qua email cho đến hoàn toàn trực tuyến. Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về E-learning, tuỳ vào các góc độ khác nhau. Tuy nhiên, để có thể đưa ra được một định nghĩa bao hàm các khía cạnh của E-learning, tác giả đã tiến hành thu thập các định nghĩa về E-learning nhằm so sánh và phân loại. Kết quả là các định nghĩa về E-learning được tác giả chia thành 4 nhóm như sau: - Theo hướng công nghệ (technology – driven): E-learning được hiểu là việc dạy và học được số hoá, có nghĩa là nhấn mạnh đến việc ứng dụng công nghệ.
Cụ thể, Guri-Rosenblit & Gros (2011) định nghĩa eLearning việc sử dụng các phương tiện điện tử cho các mục đích học tập khác nhau, hay nói cách khác, phương tiện điện tử thay đổi từ một công cụ thực hiện chức năng phụ trợ trong lớp học truyền thống cho đến thay thế hoàn toàn hình thức học trực tiếp bằng việc tiếp xúc trực tuyến. Hoặc trong báo cáo của Trường Governors State University (2008) thì E-learning được định nghĩa là quá trình lấy một khoá học trực tuyến thông qua sử dụng một modem, kết nối có dây hoặc không dây để tiếp cận các học liệu từ máy tính, điện thoại hoặc thiết bị cầm tay. Hoặc trong một vài nghiên cứu khác thì eLearning được hiểu như là một quá trình sử dụng công nghệ để phân phối các chương trình đào tạo và huấn luyện. - Theo hướng hệ thống chuyển tải (delivery – system – oriented): E-learning được hiểu là một phương thức tiếp cận kiến thức (thông qua học tập, giảng dạy) và tập trung vào khả năng tiếp cận hơn là kết quả đạt được.
Trong nghiên cứu của Koohang & Harman (2005), E-learning được định nghĩa là việc chuyển tải hoạt động giáo dục bao gồm tất cả các hoạt động liên quan đến hướng dẫn, giảng dạy và học tập thông qua các phương tiện điện tử khác nhau. Trong một số nghiên cứu khác thì E- learning được hiểu là một phương thức giáo dục trực tuyến được định nghĩa như sự chuyển tải hoạt động giáo dục và đào tạo (tự học hoặc thời gian thực) qua Internet và thiết bị người dùng cuối (Lee & Lee, 2006); hay E-learning là sự chuyển tải các chương trình giáo dục, huấn luyện hoặc học tập qua các phương tiện điện tử (Li et al. - Theo hướng tiếp cận truyền thông (communication – oriented): E-learning được xem như là một công cụ truyền thông, tương tác và hợp tác. Với hướng tiếp cận 8 này, E-learning trong nghiên cứu của Bermejo (2005) được định nghĩa là phương thức giáo dục sử dụng hệ thống truyền thông hỗ trợ bằng máy tính như một môi trường phục vụ giao tiếp, trao đổi thông tin và tương tác giữa người học với người hướng dẫn.
Bên cạnh đó, E-learning còn được hiểu như là việc học dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông với sự tương tác mang tính giáo dục giữa người học với nội dung, giữa sinh viên và người hướng dẫn cũng như giữa các sinh viên thông qua web (González-Videgaray, 2007). Trong báo cáo của Bộ Truyền thông và Công nghệ của New Zealand vào năm 2008 đã xác định E-learning là việc học được hỗ trợ bằng việc sử dụng công nghệ và nội dung số chứa đựng nhiều hình thức tương tác, trong đó bao gồm tương tác trực tuyến giữa người học với giảng viên hoặc giữa các người học. - Theo hướng tiếp cận mô hình giáo dục (educational – paradigm – oriented): E-learning được hiểu là một phương thức giáo dục mới hoặc sự cải tiến mô hình giáo dục hiện tại. Alonso, López, Manrique, & Viñes (2005) định nghĩa E-learning là việc sử dụng công nghệ đa phương tiện mới và internet để cải thiện chất lượng của việc học thông qua hỗ trợ tiếp cận tài nguyên và dịch vụ, cũng như trao đổi và hợp tác từ xa.
E-learning cũng được hiểu như là sự kết hợp rộng rãi giữa quy trình, nội dung và cơ sở hạ tầng để sử dụng máy tính và mạng trong việc mở rộng quy mô và/hoặc cải tiến một hoặc nhiều phần đáng kể của chuỗi giá trị học tập, bao gồm cả quản lý và chuyển tải (Aldrich, 2005). Còn theo Ellis, Ginns, & Piggott (2009) E-learning được định nghĩa là việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông để hỗ trợ người học cải tiến việc học của mình. Thông qua việc nghiên cứu các khái niệm đa chiều về E-learning, có thể thấy rằng các tác giả xác định việc xây dựng một định nghĩa E-learning cần quan tâm đến sự thay đổi nhanh chóng của việc áp dụng công nghệ vào giảng dạy và học tập. E- learning có thể được dùng không chỉ cho việc học tập mang tính cộng tác mà còn cho việc học tập mang tính cá thể và mang tính đầy đủ.
Không chỉ thế, E-learning còn là một phương thức hỗ trợ cho việc đạt được mục tiêu học tập của hệ chính quy và không chính quy. Cuối cùng, với sự phát triển của Internet và kỷ nguyên công nghệ 4.0 thì E-learning chính là một phương thức học tập vàgiảng dạy mới.3 Khóa học ngắn hạn 9 Được hiểu là các khóa học có chương trình đào tạo được xây dựng đáp ứng nhu cầu người học và xã hội, thời gian đào tạo không quá 1 năm bao gồm đào tạo, bồi dưỡng có cấp chứng chỉ, hoặc giấy chứng nhận. Trong phạm vi đề tài, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về các khóa học ngoại ngữ và các khóa học kỹ năng dành cho đối tượng là người đi làm.2 Các lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu 2.1 Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM - Technology Acceptance Model) Mô hình Mô hình chấp nhận và sử dụng công nghệ TAM (Technology Acceptance Model)được (Davis, 1989) xây dựng nhằm tìm hiểu hành vi người tiêu dùng trong việc sử dụng một sản phẩm, dịch vụ hay một hoạt động mới. Mô hình TAM thường được ứng dụng trong các phân tích hành vi người tiêu dùng sử dụng mạng Internet.
Mô hình TAM chỉ ra 2 yếu tố tác động đến thái độ về việc chấp nhận sử dụng một công nghệ mới là cảm nhận tính dễ sử dụng và cảm nhận lợi ích của công nghệ đó. Nhận thức hữu ích Yếu tố Thái độ Ý định Hành vi bên ngoài hành vi thực tế Nhận thức dễ sử dụng Hình 2.1 Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) Ưu điểm: TAM là một trong những mô hình thu hút được sự chú ý và xác nhận trong nhiều lĩnh vực, ứng dụng để hiểu ý định sử dụng công nghệ và hệ thống mới của người sử dụng (Armitage, Derek, et al, 2011; Venkatesh, 2000). Tuy nhiên mô hình TAM không tìm thấy lời giải thích hay tiên đoán chính xác về hành vi (Park, Yangil, và Jengchung V. Do đó, các nghiên cứu gần đây tập trung kết hợp TPB và TAM để kiểm tra quyết định sử dụng công nghệ thông tin.
10 Nhược điểm: mô hình TAM có sự khác biệt so với mô hình TRA là hành vi dự định của một người được xác định dựa trên thái độ, cảm nhận về sự hiệu quả của người đó.