đặt vấn đề nghiên cứu, mục tiêu, câu hỏi, giả thuyết, đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn và bố cục của đề tài. Chương 2: Trình bày cơ sở lý thuyết. Nội dung gồm: cơ sở lý thuyết về LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 nghèo, nguyên nhân của nghèo đói, mô hình lý thuyết về các yếu tố tác động đến nghèo, lược khảo các nghiên cứu trước về nghèo và khung phân tích các yếu tố tác động đến thoát nghèo. Chương 3: Trình bày thiết kế nghiên cứu.
Nội dung gồm: trình bày các mô hình phân tích các nhân tố tác động đến nghèo, mô hình logistic phân tích các yếu tố tác động đến thoát nghèo, định nghĩa các biến nghiên cứu trong mô hình, cơ sở xác định hộ thoát nghèo, nguồn số liệu dùng để phân tích, quy trình nghiên cứu và các phần mềm xử lý. Chương 4: Phân tích dữ liệu và kết quả nghiên cứu. Nội dung gồm: Tổng quan về vị trí địa lý, kinh tế xã hội tỉnh, huyện và 03 xã được khảo sát; mô tả dữ liệu điều tra và kết quả phân tích hồi quy, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thoát nghèo và xây dựng mô hình dự báo thoát nghèo. Chương 5: Kết luận và các gợi ý chính sách.
Nội dung gồm: phần tóm tắt các phát hiện chính của nghiên cứu và nêu các gợi ý về mặt chính sách. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƯƠNG II. Tóm lược lý thuyết Để đánh giá các yếu tố tác động đến thoát nghèo, tác giả tiếp cận đến các khái niệm và các nghiên cứu về nghèo của các tổ chức và cá nhân như sau: 1. Khái niệm nghèo: Tại hội nghị Thượng đỉnh thế giới và phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen, Đan Mạch năm 1995 định nghĩa: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 đô la (USD) một ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”.
Theo Báo cáo của Ngân hàng thế giới (NHTG) 1990 cho rằng nghèo là tình trạng thiếu thốn các sản phẩm và dịch vụ thiết yếu như giáo dục, y tế, dinh dưỡng. Năm 2000 và 2001, NHTG đã bổ sung vào khái niệm tình trạng bị gạt ra bên lề xã hội hay tình trạng dễ bị tổn thương: “ Xét về mặt phúc lợi, nghèo có nghĩa là khốn cùng. Nghèo có nghĩa là đói, không có nhà cửa, quần áo, ốm đau và không có ai chăm sóc, mù chữ và không được đến trường. Nhưng đối với người nghèo, sống trong cảnh bần hàn còn mang nhiều ý nghĩa hơn thế.
Người nghèo đặc biệt dễ bị tổn thương trước những sự kiện bất thường nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ”. Ngày 27/8/2008, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) công bố tiêu chuẩn mới để xác định tình trạng nghèo khó ở châu Á, theo đó, một người được xác định tình trạng nghèo khi thu nhập dưới 1,35 USD/ngày (tương đương 870.750 đồng/người/tháng). Tiêu chuẩn 1,35 USD/ngày đã được ADB tính toán dựa trên trung bình cộng các mức nghèo tại 16 nước đang phát triển tại châu Á năm 2005. Theo Đinh Phi Hổ (2006), nghèo được nhận diện trên 2 khía cạnh: nghèo đói tuyệt đối và nghèo đói tương đối.
Nghèo đói tuyệt đối: Một người hoặc một hộ gia đình được xem là nghèo tuyệt đối khi mức thu nhập của họ thấp hơn tiêu chuẩn tối thiểu (mức thu nhập tối thiểu) được quy định bởi một quốc gia hoặc tổ chức quốc tế trong khoảng thời gian nhất định. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Trên thế giới, các quốc gia thường dựa vào tiêu chuẩn về mức thu nhập của World Bank đưa ra để phân tích tình trạng nghèo của quốc gia. Tiêu chuẩn nghèo đói của World Bank Khu vực Mức thu nhập tối thiểu (USD/người/ngày) Các nước đang phát triển khác 1 USD hoặc 360 USD/năm Châu Mỹ Latinh và Caribe 2 Đông Âu 4 Các nước phát triển 14,4 Nguồn: Đinh Phi Hổ (2006) Nghèo tương đối: là tình trạng mà một người hoặc một hộ gia đình thuộc về nhóm người có thu nhập thấp nhất trong xã hội xét theo không gian và thời gian nhất định. Theo cách sử dụng để phân tích các Điều tra Mức sống dân cư ở Việt Năm 1993-1998.
Hộ gia đình là nghèo được định nghĩa là nếu mức độ chi tiêu bình quân đầu người nằm trong 20% thấp nhất của chi tiêu. Lợi thế chính của phương pháp này là nó cho phép người ta xác định được rõ hơn các nhân tố làm tách biệt các hộ giàu với các hộ có thu nhập gần bằng hoặc thấp hơn giá trị trung vị. Như vậy, theo cách tính này thì người nghèo đói tương đối sẽ luôn hiện diện bất kể trình độ phát triển nào. Ở Việt Nam khái niệm về nghèo đói thường được sử dụng là khái niệm được đưa ra tại Hội nghị chống đói nghèo do Ủy ban kinh tế xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993 và được các quốc gia trong khu vực thống nhất.
Khái niệm cho rằng: Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận”. Theo Tổng cục Thống kê: xác định chuẩn nghèo dựa trên cách tiếp cận của Ngân hàng Thế giới, gồm hai mức: thứ nhất là nghèo lương thức thực phẩm, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 dựa trên tổng chi dùng chỉ tính riêng cho phần lương thực thực phẩm, làm sao để đảm bảo lượng dinh dưỡng tối thiểu cho một người là 2100 kcal/ngày đêm; thứ hai là nghèo chung, dựa trên tổng chi dùng cho cả giỏ hàng tiêu dùng tối thiểu, được xác định bằng cách ước lượng tỷ lệ: 70% chi dùng dành cho lương thực thực phẩm, 30% cho các khoản còn lại. Theo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: xác định một cách tương đối bằng cách làm tròn số và áp dụng cho từng khu vực và vùng miền khác nhau (nông thôn miền núi, hải đảo, nông thôn, đồng bằng, thành thị). Tùy vào điều kiện, tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, chuẩn nghèo có thể được điều chỉnh cho phù hợp.
Giai đoạn 2001-2005, những hộ gia đình nghèo được xem là thuộc diện hộ nghèo khi họ có thu nhập bình quân đầu người từ 80.000 đồng/người/tháng trở xuống ở khu vực nông thôn, miền núi và hải đảo; từ 100.000 đồng/người/tháng trở xuống ở khu vực nông thôn đồng bằng; từ 150.000 đồng/người/tháng trở xuống ở khu vực thành thị. Giai đoạn 2006-2010: ở khu vực nông thôn, những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng trở xuống là hộ nghèo; ở khu vực thành thị, những hộ có mức thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng trở xuống là hộ nghèo. Giai đoạn 2011-2015: ở khu vực nông thôn, những hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo; ở khu vực thành thị, những hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (dưới 6.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo. Theo quan điểm về nghèo ở tỉnh Vĩnh Long: do chưa có quy định về chuẩn nghèo riêng của địa phương, nên tỉnh Vĩnh Long thực hiện chuẩn nghèo theo quy định của Chính phủ.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tiêu chuẩn nghèo của tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2011-2015 Mức thu nhập tối thiểu Khu vực (VND/người/tháng) Thành thị 500.000 Nguồn: Sở Lao động - Thương binh xã hội Vĩnh Long (2011) Tóm lại, có nhiều khái niệm khác nhau về nghèo, nhưng hầu hết đều chứa đựng các vấn đề cơ bản và quan trọng đó là người nghèo có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư; người nghèo không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người trong cộng đồng đó; người nghèo ít nhận được sự hỗ trợ cũng như hợp tác của người khác, ít được tham gia vào quá trình ra quyết định phát triển của cộng đồng, không được người khác tôn trọng, không có quyền phát ngôn và không có quyền lực. Phương pháp xác định chuẩn nghèo Có nhiều phương pháp phân loại giàu nghèo như phân loại theo chi tiêu, phân loại theo thu nhập thông tin, vẽ bản đồ nghèo, phân loại giàu nghèo theo tiêu chí của địa phương, …. Mỗi phương pháp điều có những ưu điểm, hạn chế riêng và có thể được áp dụng tùy lúc, tùy nơi, tùy mục đích.
Những người có mức chi tiêu dưới mức chi cần thiết để đạt được lượng Kcal này gọi là nghèo về lương thực, thực phẩm. Ngưỡng nghèo chung: Đo lường mức chi phí đủ để mua 1 lượng LTTP cung cấp 2100 calo/ngày và một số mặt hàng phi LTTP. Đối với Việt Nam, phương pháp xác định chuẩn nghèo của Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo từ năm 1993 đến nay, Việt Nam đã 5 lần nâng mức chuẩn nghèo để dần đạt được 3 yêu cầu: xóa đói giảm nghèo toàn diện hơn, công bằng hơn và hội nhập theo chuẩn nghèo quốc tế. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08 tháng 7 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010 thì những hộ gia đình ở nông thôn có mức thu nhập bình quân dưới 200.000 đồng/người/tháng (2,4 triệu đồng/người/năm) được coi là hộ nghèo.
Ở khu vực thành thị, những hộ có mức thu nhập bình quân dưới 260.000 đồng/người/tháng (dưới 3,12 triệu đồng/người/năm) được coi là hộ nghèo. Căn cứ vào điều kiện, đặc điểm tình hình kinh tế xã hội tỉnh Vĩnh Long, UBND tỉnh Vĩnh Long quy định chuẩn hộ nghèo được xác định theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30 tháng 01 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ “về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015”. Cụ thể, ở khu vực nông thôn, những hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo; ở khu vực thành thị, những hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (dưới 6.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo. Những hộ có thu nhập trên mức quy định đó được xem là hộ thoát nghèo.
Nguyên nhân của nghèo đói Xác định được nguyên nhân của nghèo đói giúp ta xác định được các yếu tố tác động đến thoát nghèo. Hiện nay, có nhiều nguyên nhân dẫn đến nghèo đói. Và cũng khó để phân biệt trong những yếu tố cơ bản có ảnh hưởng đến nghèo, đâu là nguyên nhân còn đâu là kết quả, cũng như sự tác động qua lại của chúng đến khả năng thoát nghèo của người nghèo.