Nghiên cứu các yếu tố tác động đến thoát nghèo ở huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long

Nghiên cứu các yếu tố tác động đến thoát nghèo ở huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình phát triển kinh tế.

Chuyên ngành

Chính Sách Công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

87
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Vấn đề nghiên cứu

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Câu hỏi nghiên cứu

1.4. Giả thuyết nghiên cứu

1.5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.6. Phương pháp nghiên cứu

1.7. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

1.8. Kết cấu của luận văn

2. CHƯƠNG 2: TÓM LƯỢC LÝ THUYẾT

2.1. Khái niệm nghèo

2.2. Nguyên nhân của nghèo đói

2.3. Mô hình lý thuyết về các yếu tố tác động đến nghèo

2.4. Các nghiên cứu trước về nghèo

2.5. Khung phân tích các yếu tố tác động đến thoát nghèo

3. CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

3.1. Các mô hình phân tích các nhân tố tác động đến nghèo

3.2. Mô hình logistic phân tích các yếu tố tác động đến thoát nghèo

3.3. Định nghĩa các biến nghiên cứu trong mô hình

3.4. Cơ sở xác định hộ thoát nghèo

3.5. Nguồn số liệu dùng để phân tích

3.6. Quy trình nghiên cứu

3.7. Các phần mềm xử lý

4. CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Tổng quan về vị trí địa lý, kinh tế xã hội tỉnh Vĩnh Long

4.2. Tổng quan về vị trí địa lý, kinh tế xã hội huyện Long Hồ

4.3. Mô tả dữ liệu điều tra

4.4. Kết quả phân tích mô hình

4.4.1. Kết quả hồi quy của mô hình nghiên cứu

4.4.2. Thảo luận kết quả hồi quy

4.4.3. Mô hình dự báo thoát nghèo

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ CÁC GỢI Ý CHÍNH SÁCH

5.1. Gợi ý chính sách để thoát nghèo ở huyện Long Hồ tỉnh Vĩnh Long

5.1.1. Vốn vay từ các định chế chính thức

5.1.2. Phát triển cơ sở hạ tầng đường bộ

5.1.3. Thực hiện bình đẳng giới

5.1.4. Vấn đề giáo dục và học vấn

5.1.5. Tỷ lệ người phụ thuộc của hộ

5.2. Giới hạn của đề tài và đề nghị hướng nghiên cứu tiếp theo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về các yếu tố ảnh hưởng đến thoát nghèo ở Long Hồ

Huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, là một trong những địa phương có tỷ lệ hộ nghèo thấp hơn mức trung bình của cả nước. Tuy nhiên, việc thoát nghèo vẫn gặp nhiều thách thức. Nghiên cứu này nhằm xác định các yếu tố tác động đến khả năng thoát nghèo của các hộ gia đình tại đây. Các yếu tố này bao gồm điều kiện kinh tế, giáo dục, và chính sách hỗ trợ xã hội.

1.1. Khái niệm nghèo và thoát nghèo

Nghèo được định nghĩa không chỉ là thiếu thốn về tài chính mà còn là thiếu hụt về giáo dục, y tế và cơ hội việc làm. Thoát nghèo không chỉ đơn thuần là tăng thu nhập mà còn là cải thiện chất lượng cuộc sống.

1.2. Tình hình nghèo đói ở huyện Long Hồ

Theo số liệu thống kê, tỷ lệ hộ nghèo ở huyện Long Hồ là 5,44%, thấp hơn so với mức trung bình của tỉnh Vĩnh Long. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hộ gia đình gặp khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn lực cần thiết để thoát nghèo.

II. Các thách thức trong việc thoát nghèo ở Long Hồ

Mặc dù có nhiều chính sách hỗ trợ, nhưng việc thoát nghèo ở huyện Long Hồ vẫn gặp phải nhiều thách thức. Các yếu tố như trình độ học vấn, giới tính của chủ hộ, và tỷ lệ người phụ thuộc đều ảnh hưởng đến khả năng thoát nghèo.

2.1. Trình độ học vấn của chủ hộ

Trình độ học vấn của chủ hộ là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng thoát nghèo. Hộ gia đình có chủ hộ có trình độ học vấn cao thường có khả năng tiếp cận thông tin và cơ hội việc làm tốt hơn.

2.2. Tỷ lệ người phụ thuộc trong hộ gia đình

Tỷ lệ người phụ thuộc cao trong hộ gia đình có thể làm giảm khả năng tài chính và tăng gánh nặng cho các thành viên còn lại, từ đó ảnh hưởng đến khả năng thoát nghèo.

III. Phương pháp hỗ trợ thoát nghèo hiệu quả ở Long Hồ

Để nâng cao khả năng thoát nghèo, cần có các phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Các chính sách như cung cấp vốn vay từ các định chế chính thức, phát triển cơ sở hạ tầng, và cải thiện giáo dục là rất cần thiết.

3.1. Cung cấp vốn vay từ định chế chính thức

Việc tiếp cận vốn vay từ các định chế chính thức giúp hộ nghèo có nguồn lực để đầu tư vào sản xuất và kinh doanh, từ đó tăng thu nhập và cải thiện đời sống.

3.2. Phát triển cơ sở hạ tầng

Cơ sở hạ tầng giao thông, điện, và nước sạch là những yếu tố quan trọng giúp cải thiện điều kiện sống và tạo điều kiện cho hộ nghèo tiếp cận thị trường.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu tại Long Hồ

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng có năm yếu tố chính ảnh hưởng đến khả năng thoát nghèo của hộ gia đình ở huyện Long Hồ. Các yếu tố này bao gồm vay từ các định chế chính thức, đường ô tô đến tận nhà, giới tính của chủ hộ, trình độ học vấn của chủ hộ, và tỷ lệ phụ thuộc.

4.1. Kết quả phân tích mô hình hồi quy

Kết quả phân tích cho thấy rằng hộ gia đình có chủ hộ là nam, có trình độ học vấn cao và không có người phụ thuộc có khả năng thoát nghèo cao hơn nhiều so với các hộ còn lại.

4.2. Dự báo khả năng thoát nghèo

Mô hình dự báo cho thấy rằng nếu hộ gia đình có các yếu tố thuận lợi, khả năng thoát nghèo có thể đạt tới 39%, trong khi đó nếu thiếu các yếu tố này, khả năng thoát nghèo chỉ là 0,05%.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho việc thoát nghèo ở Long Hồ

Việc thoát nghèo ở huyện Long Hồ cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các chính sách hỗ trợ và sự tham gia của cộng đồng. Các giải pháp cần được triển khai đồng bộ để đảm bảo hiệu quả.

5.1. Gợi ý chính sách cho chính quyền địa phương

Chính quyền địa phương cần xây dựng các chính sách hỗ trợ cụ thể nhằm giúp hộ nghèo tiếp cận vốn vay, cải thiện cơ sở hạ tầng và nâng cao trình độ học vấn.

5.2. Tương lai của công tác giảm nghèo tại Long Hồ

Công tác giảm nghèo tại Long Hồ cần được tiếp tục duy trì và phát triển, với sự tham gia của các tổ chức xã hội và cộng đồng để đạt được mục tiêu phát triển bền vững.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh các yếu tố tác động đến thoát nghèo ở huyện long hồ tỉnh vĩnh long

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề nghiên cứu, mục tiêu, câu hỏi, giả thuyết, đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn và bố cục của đề tài. Chương 2: Trình bày cơ sở lý thuyết. Nội dung gồm: cơ sở lý thuyết về LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 nghèo, nguyên nhân của nghèo đói, mô hình lý thuyết về các yếu tố tác động đến nghèo, lược khảo các nghiên cứu trước về nghèo và khung phân tích các yếu tố tác động đến thoát nghèo. Chương 3: Trình bày thiết kế nghiên cứu.

Nội dung gồm: trình bày các mô hình phân tích các nhân tố tác động đến nghèo, mô hình logistic phân tích các yếu tố tác động đến thoát nghèo, định nghĩa các biến nghiên cứu trong mô hình, cơ sở xác định hộ thoát nghèo, nguồn số liệu dùng để phân tích, quy trình nghiên cứu và các phần mềm xử lý. Chương 4: Phân tích dữ liệu và kết quả nghiên cứu. Nội dung gồm: Tổng quan về vị trí địa lý, kinh tế xã hội tỉnh, huyện và 03 xã được khảo sát; mô tả dữ liệu điều tra và kết quả phân tích hồi quy, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thoát nghèo và xây dựng mô hình dự báo thoát nghèo. Chương 5: Kết luận và các gợi ý chính sách.

Nội dung gồm: phần tóm tắt các phát hiện chính của nghiên cứu và nêu các gợi ý về mặt chính sách. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƯƠNG II. Tóm lược lý thuyết Để đánh giá các yếu tố tác động đến thoát nghèo, tác giả tiếp cận đến các khái niệm và các nghiên cứu về nghèo của các tổ chức và cá nhân như sau: 1. Khái niệm nghèo: Tại hội nghị Thượng đỉnh thế giới và phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen, Đan Mạch năm 1995 định nghĩa: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 đô la (USD) một ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”.

Theo Báo cáo của Ngân hàng thế giới (NHTG) 1990 cho rằng nghèo là tình trạng thiếu thốn các sản phẩm và dịch vụ thiết yếu như giáo dục, y tế, dinh dưỡng. Năm 2000 và 2001, NHTG đã bổ sung vào khái niệm tình trạng bị gạt ra bên lề xã hội hay tình trạng dễ bị tổn thương: “ Xét về mặt phúc lợi, nghèo có nghĩa là khốn cùng. Nghèo có nghĩa là đói, không có nhà cửa, quần áo, ốm đau và không có ai chăm sóc, mù chữ và không được đến trường. Nhưng đối với người nghèo, sống trong cảnh bần hàn còn mang nhiều ý nghĩa hơn thế.

Người nghèo đặc biệt dễ bị tổn thương trước những sự kiện bất thường nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ”. Ngày 27/8/2008, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) công bố tiêu chuẩn mới để xác định tình trạng nghèo khó ở châu Á, theo đó, một người được xác định tình trạng nghèo khi thu nhập dưới 1,35 USD/ngày (tương đương 870.750 đồng/người/tháng). Tiêu chuẩn 1,35 USD/ngày đã được ADB tính toán dựa trên trung bình cộng các mức nghèo tại 16 nước đang phát triển tại châu Á năm 2005. Theo Đinh Phi Hổ (2006), nghèo được nhận diện trên 2 khía cạnh: nghèo đói tuyệt đối và nghèo đói tương đối.

Nghèo đói tuyệt đối: Một người hoặc một hộ gia đình được xem là nghèo tuyệt đối khi mức thu nhập của họ thấp hơn tiêu chuẩn tối thiểu (mức thu nhập tối thiểu) được quy định bởi một quốc gia hoặc tổ chức quốc tế trong khoảng thời gian nhất định. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Trên thế giới, các quốc gia thường dựa vào tiêu chuẩn về mức thu nhập của World Bank đưa ra để phân tích tình trạng nghèo của quốc gia. Tiêu chuẩn nghèo đói của World Bank Khu vực Mức thu nhập tối thiểu (USD/người/ngày) Các nước đang phát triển khác 1 USD hoặc 360 USD/năm Châu Mỹ Latinh và Caribe 2 Đông Âu 4 Các nước phát triển 14,4 Nguồn: Đinh Phi Hổ (2006) Nghèo tương đối: là tình trạng mà một người hoặc một hộ gia đình thuộc về nhóm người có thu nhập thấp nhất trong xã hội xét theo không gian và thời gian nhất định. Theo cách sử dụng để phân tích các Điều tra Mức sống dân cư ở Việt Năm 1993-1998.

Hộ gia đình là nghèo được định nghĩa là nếu mức độ chi tiêu bình quân đầu người nằm trong 20% thấp nhất của chi tiêu. Lợi thế chính của phương pháp này là nó cho phép người ta xác định được rõ hơn các nhân tố làm tách biệt các hộ giàu với các hộ có thu nhập gần bằng hoặc thấp hơn giá trị trung vị. Như vậy, theo cách tính này thì người nghèo đói tương đối sẽ luôn hiện diện bất kể trình độ phát triển nào. Ở Việt Nam khái niệm về nghèo đói thường được sử dụng là khái niệm được đưa ra tại Hội nghị chống đói nghèo do Ủy ban kinh tế xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993 và được các quốc gia trong khu vực thống nhất.

Khái niệm cho rằng: Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận”. Theo Tổng cục Thống kê: xác định chuẩn nghèo dựa trên cách tiếp cận của Ngân hàng Thế giới, gồm hai mức: thứ nhất là nghèo lương thức thực phẩm, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 dựa trên tổng chi dùng chỉ tính riêng cho phần lương thực thực phẩm, làm sao để đảm bảo lượng dinh dưỡng tối thiểu cho một người là 2100 kcal/ngày đêm; thứ hai là nghèo chung, dựa trên tổng chi dùng cho cả giỏ hàng tiêu dùng tối thiểu, được xác định bằng cách ước lượng tỷ lệ: 70% chi dùng dành cho lương thực thực phẩm, 30% cho các khoản còn lại. Theo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: xác định một cách tương đối bằng cách làm tròn số và áp dụng cho từng khu vực và vùng miền khác nhau (nông thôn miền núi, hải đảo, nông thôn, đồng bằng, thành thị). Tùy vào điều kiện, tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, chuẩn nghèo có thể được điều chỉnh cho phù hợp.

Giai đoạn 2001-2005, những hộ gia đình nghèo được xem là thuộc diện hộ nghèo khi họ có thu nhập bình quân đầu người từ 80.000 đồng/người/tháng trở xuống ở khu vực nông thôn, miền núi và hải đảo; từ 100.000 đồng/người/tháng trở xuống ở khu vực nông thôn đồng bằng; từ 150.000 đồng/người/tháng trở xuống ở khu vực thành thị. Giai đoạn 2006-2010: ở khu vực nông thôn, những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng trở xuống là hộ nghèo; ở khu vực thành thị, những hộ có mức thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng trở xuống là hộ nghèo. Giai đoạn 2011-2015: ở khu vực nông thôn, những hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo; ở khu vực thành thị, những hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (dưới 6.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo. Theo quan điểm về nghèo ở tỉnh Vĩnh Long: do chưa có quy định về chuẩn nghèo riêng của địa phương, nên tỉnh Vĩnh Long thực hiện chuẩn nghèo theo quy định của Chính phủ.

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tiêu chuẩn nghèo của tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2011-2015 Mức thu nhập tối thiểu Khu vực (VND/người/tháng) Thành thị 500.000 Nguồn: Sở Lao động - Thương binh xã hội Vĩnh Long (2011) Tóm lại, có nhiều khái niệm khác nhau về nghèo, nhưng hầu hết đều chứa đựng các vấn đề cơ bản và quan trọng đó là người nghèo có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư; người nghèo không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người trong cộng đồng đó; người nghèo ít nhận được sự hỗ trợ cũng như hợp tác của người khác, ít được tham gia vào quá trình ra quyết định phát triển của cộng đồng, không được người khác tôn trọng, không có quyền phát ngôn và không có quyền lực. Phương pháp xác định chuẩn nghèo Có nhiều phương pháp phân loại giàu nghèo như phân loại theo chi tiêu, phân loại theo thu nhập thông tin, vẽ bản đồ nghèo, phân loại giàu nghèo theo tiêu chí của địa phương, …. Mỗi phương pháp điều có những ưu điểm, hạn chế riêng và có thể được áp dụng tùy lúc, tùy nơi, tùy mục đích.

Những người có mức chi tiêu dưới mức chi cần thiết để đạt được lượng Kcal này gọi là nghèo về lương thực, thực phẩm. Ngưỡng nghèo chung: Đo lường mức chi phí đủ để mua 1 lượng LTTP cung cấp 2100 calo/ngày và một số mặt hàng phi LTTP. Đối với Việt Nam, phương pháp xác định chuẩn nghèo của Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo từ năm 1993 đến nay, Việt Nam đã 5 lần nâng mức chuẩn nghèo để dần đạt được 3 yêu cầu: xóa đói giảm nghèo toàn diện hơn, công bằng hơn và hội nhập theo chuẩn nghèo quốc tế. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08 tháng 7 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010 thì những hộ gia đình ở nông thôn có mức thu nhập bình quân dưới 200.000 đồng/người/tháng (2,4 triệu đồng/người/năm) được coi là hộ nghèo.

Ở khu vực thành thị, những hộ có mức thu nhập bình quân dưới 260.000 đồng/người/tháng (dưới 3,12 triệu đồng/người/năm) được coi là hộ nghèo. Căn cứ vào điều kiện, đặc điểm tình hình kinh tế xã hội tỉnh Vĩnh Long, UBND tỉnh Vĩnh Long quy định chuẩn hộ nghèo được xác định theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30 tháng 01 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ “về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015”. Cụ thể, ở khu vực nông thôn, những hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo; ở khu vực thành thị, những hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (dưới 6.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo. Những hộ có thu nhập trên mức quy định đó được xem là hộ thoát nghèo.

Nguyên nhân của nghèo đói Xác định được nguyên nhân của nghèo đói giúp ta xác định được các yếu tố tác động đến thoát nghèo. Hiện nay, có nhiều nguyên nhân dẫn đến nghèo đói. Và cũng khó để phân biệt trong những yếu tố cơ bản có ảnh hưởng đến nghèo, đâu là nguyên nhân còn đâu là kết quả, cũng như sự tác động qua lại của chúng đến khả năng thoát nghèo của người nghèo.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ