phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, bài nghiên cứu được chia thành 5 chương như sau: Chương l - Giới thiệu: Trình bày về tổng quan đề tài bao gồm bối cảnh nghiên cứu, tổng quan nghiên cứu và các khoảng trống nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu, tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu và bố cục nghiên cứu. Chương 2 - Cơ sở lý luận: Các khái niệm, kiến thức nền tảng trong bài nghiên cứu, các thành tựu về CNTT. Chương 3 - Mô hình nghiên cứu: Mô tả các bước thực hiện nghiên cứu, cách thức lay và khai thác dữ liệu và mô tả các biên được đưa vào mô hình. 14 Chương 4 — Kết quả nghiên cứu: Thống kê mô tả, kiểm tra độ tin cậy Cronbach's Alpha, phân tích nhân tô khám pha EFA, phân tích tương quan và hồi quy đa biến, va thao luận kết quả nghiên cứu.
Chương 5 — Kết luận và khuyến nghị: Kết luận bài nghiên cứu, hạn chế của bài nghiên cứu, đề xuất và phương hướng phát triển của bài nghiên cứu. Các khái niệm, kiến thức nền tảng trong bài nghiên cứu CNTTT là ngành ứng dụng công nghệ quản lý và xử ly thông trn. CNTT có các chức năng quan trọng như sáng tạo, xử lý, lưu trữ và truyền tải thông tin. CNTT có những đặc trưng riêng biệt và mang tính toàn cầu; là cơ sở đề trao đôi thông tin, tri thức, công nghệ, phát huy sáng tạo; hỗ trợ giảm chỉ phí, nâng cao năng suất, hiệu quả kinh doanh, năng lực cạnh tranh; loại bỏ các quá trình trung gian, dư thừa.
CNTT là ngành sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyên đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền, và thu thập thông tin. Ở Việt Nam khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong Nghị quyết Chính phủ 49/CP ký ngày 04/08/1993: CNTTT là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tô chức khai thác và sử 2 dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội. Luật CNTTT của Việt Nam ban hành ngày 29/6/2006 đã định nghĩa: CNTTT là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đối thông tin số. CNTT được ứng dụng trong hầu hết các lĩnh vực bao gồm như quy trình hoạt động, phần cứng máy tính, phần mềm máy tính, ngôn ngữ lập trình, và các cấu trúc đữ liệu.
Những gì liên quan đến dữ liệu, thông tin hoặc tri thức ở các định dạng, thông qua các hình thức truyền tải đa phương tiện đều là thành phần của CNTT. Hoạt động trong lĩnh vực CNTT bao gồm quản lý dữ liệu, mạng, phần cứng máy tính, phần mềm, cơ sở dữ liệu và quản lý, điều hành hệ thống. Theo đánh giá và thông tin cũng như nhu cầu của người dân hiện nay ngành công nghệ thông tin đang có sự phát triển mạnh mẽ và sẽ còn phát triển mạnh mẽ hơn nữa, đây cũng chính là thực trạng của ngành công nghệ thông tin trong thời gian qua. Ngành công nghệ thông tin đang được đánh giá cao và đóng vai trò quan trọng trong nhiều lĩnh vực hiện nay.
Boy CNTT/Viễn thông 72,7% Công nghiệp sạch 63,6% Dược phẩm/Y tế DƯ NT. Logistics Tt iS Nang luong A) ey ea : ` Ce) Neuon: Suu tam - Sự biến đôi của nền kinh tế công nghiệp đang chuyên dần sang nền kinh tế tri thức; nhiều biến động to lớn và có tác động quan trọng đến mọi mặt của đời sông xã hội loài người. Nền kinh tế ngày nay đòi hỏi phải có một kết cầu hạ tầng thông tin phù hợp và đáp ứng các giai đoạn của quá trình lao động sản xuất. Kết cầu hạ tầng thông tin quốc gia là hệ thống các mạng truyền thông, máy tính, các cơ sở dữ liệu, các phương tiện điện tử được xây dựng và sẵn sàng cung cấp lượng thông tin không lồ thông qua các hình thức khác nhau.
Quá trình phát triển của CNTT có bốn giai đoạn chính: + Giai đoạn xử lý thủ công: sử dụng phương pháp thủ công để thu thập và xử lý théng tin. + Giai đoạn xử lý cơ giới: sử dụng máy tính đề tính toán, tổng hợp. + Giai đoạn xử lý tự động: hệ thống máy tính tự động hóa quy trình thu thập dữ liệu và xử lý thông tin. Do đó, thông tin được xử lý với tốc độ nhanh hơn.
+ Giai đoạn xử lý thông tin thông minh: hệ thống máy tính có khả năng xử lý lượng thông tin không lồ, giúp con người phân tích các tình huống và là trợ lý đắc lực của con người, phát triên khả năng sáng tạo của con người. - Theo những đánh giá và thông tin cũng như nhu cầu của con người hiện nay thì ngành công nghệ thông tin đang phát triển mạnh và sẽ phát triển mạnh mẽ hơn nữa, đây cũng là thực trạng của ngành công nghệ thông tin trong những năm gần đây. Với ngành công nghệ thông tin đang được đánh giá cao và có vai trò quan trọng trong nhiều lĩnh vực hiện nay. Vai trd cia CNTT noi chung và trong ngành kề toán, kiêm toán nói riêng Vai trò của CNTT đổi với sự phát triển của xã hội loài người là vô cùng quan trọng, nó thúc đây con người phát triển văn hóa, phát triển nguồn tri thức, phát triển sự tư duy sáng tạo của con người và phát triển xã hội.
Nhận thức được vai trò của CNTT, các quốc gia trên thế giới đã và đang xây dựng chiến lược quốc gia về CNTT. CNTT gắn liền với nhiều ngành công nghiệp phần cứng, phần mềm, dịch vụ, điện tử, viễn thông. Tuy nhiên, CNTT không chỉ đơn thuần là một ngành kinh tế mà nó là xu thể của thế giới trong tương lai, phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng dựa trên cơ sở phát triển CNTT. Internet làm cho toàn cầu càng trở nên gần gũi và thân thiết với nhau hơn.
Nguồn tri thức và thông tin về mọi thứ trở thành nguồn tài nguyên không giới hạn, dịch vụ thương mại, tài chính, đầu tư, và giao lưu hàng hóa. đều được ứng dụng CNTT hỗ trợ mà nó trở nên gần gũi và đễ dàng hơn cho con người. Mợi ngành nghề đều trở nên đa dạng, vượt khỏi quy mô quốc gia và vươn xa hơn ra quốc tế. Nhờ các ứng dụng CNTT, các hoạt động và giao dịch kinh tế giữa các quốc gia được hình thành và phát triển nhanh chóng, điều đó làm cho mỗi quan hệ giữa các quôc gia trên thê giới trở nên gân gũi hơn.
Nhờ tác động của Cách mạng Công nghệ 4.0 đã làm thay đổi cơ bản phương thức thực hiện kế toán - kiểm toán hiện nay. Các doanh nghiệp đã dựa vào và áp dụng CNTT như các chứng từ điện tử, các phần mềm tổng hợp, xử lý dữ liệu trong môi trường tin học hóa, tiết kiệm thời gian, công sức cũng như không bị giới hạn bởi không gian, khoảng cách địa ly. Vi vay, người lao động trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán buộc phải thay đối dé theo kịp sự biến đối đó. Hoạt động kế toán tại các doanh nghiệp đã trở nên hiệu quả hơn, mình bạch và chuyên nghiệp.
Hay bằng cách nào đó mở ra cơ hội tốt cho lĩnh vực kế toán, kiêm toán tiếp cận những phần mềm tiện ích, chỉ phí phù hợp, giúp sử dụng hiệu quả nguồn lực, tiết kiệm thời gian, nhân lực, tiếp cận hệ thống kế toán, kiểm toán quốc tế. Kế toán viên tại Việt Nam, có thể thực hiện công việc kế toán ở bất cứ đất nước nào trên toàn thế giới. Bên cạnh đó, các kế toán viên ở các quốc gia trên thê giới được Việt Nam chấp nhận hành nghề, đều có thê thực hiện công việc kế toán của doanh nghiệp. Xu thế hội nhập quốc tế ngày càng trở nên sâu rộng, đòi hỏi Việt Nam phải phát triển nguồn nhân lực kế toán có tính chuyên nghiệp cao, đủ năng lực cạnh tranh với lao động của các nước khác trong khu vực cũng như dòng dịch chuyển nguồn nhân lực giữa các quốc gia.
Bằng việc áp dụng chứng từ điện tử, bằng các phần mềm tông hợp, xử lý dữ liệu tự động, ghi số kế toán cũng như cho phép thực hiện các phương thức kiểm toán trong môi trường tin học hóa. Như vậy, các phương thức giảng dạy truyền thống cần thay đổi, nội dung chương trình cần có sự cập nhật thường xuyên. Những thành tựu từ CNTT đem lại cho ngành kiểm toán và kế toán rất nhiều, điền hình là: tô chức thực hiện công tác kế toán một cách dễ dàng, hiệu quả từ việc thu thập thông tin (chứng từ kế toán); xử lý thông tin (ghi số kế toán); cung cấp thông tin (bao cao tài chính); lưu trữ bảo quản tài liệu, thông tin kế toán và tổ chức bộ máy kế toán gọn nhẹ: tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp. Công nghệ đám mây giúp thông tin được lưu trữ với khối lượng lớn, không bị giới hạn và thực hiện cùng lúc nhiều nhiệm vụ, để đạt được kết quả mong muốn.
Việc học tập nâng cao tay nghề và ứng dụng những tiên bộ khoa học, kỹ thuật vào công tác chuyên môn của đội ngũ kế toán, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng lao động của các kế toán viên cũng được nâng cấp nhiều hơn. Có thê nói, CNTT đã đem đến những thành tựu có tính đột phá và có tác động quan trọng đến mọi mặt trong đời sống xã hội loài người. Điển hình như tự động hóa quy trình bằng robot. Theo chuyên ngành ta có tên gọi RPA - Robotie Process Automation.
Tự động hóa quy trình bằng robot (RPA) là đề cập đến một phần mềm được lập trình đề thực hiện các tác vụ cơ bản trên các ứng dụng như cách con người thực hiện. Tự động hóa là khái niệm về các quy trình được thực hiện bởi máy móc. Máy móc có thể thực hiện một số quy trình lặp đi lặp lại theo một tiêu chuẩn nhất định, nhanh chong va it xay ra sai sot, do đó chúng thường thực hiện những công việc này tốt hơn con người. Robot phần mềm có thê được học nhiều bước trong quy trình làm việc và nhiều ứng dụng.
Chăng hạn như các công việc thường ngày cần chúng ta thực hiện: tiếp nhận các biểu mẫu, gửi tin nhắn xác nhận, kiểm tra tính toàn vẹn của biểu mẫu, sắp xếp biểu mẫu vào các thư mục tương ứng và cập nhật bảng tính với tên biêu mẫu, ngày tao .