Chương 1 nhằm trình bày tổng quan các lý thuyết và nghiên cứu liên quan đến đề tài. Nội dung trình bày gồm những khái niệm, định nghĩa và lý thuyết liên quan về thích ứng với biến đổi khí hậu. Nội dung quan trọng khác của chương là những nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến thích ứng với BĐKH tai cấp nông hộ; các mô hình và yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng biện pháp thích ứng của hộ. Nghiên cứu liên quan nước ngoài Deressa va cộng sự (2011) sử dụng mô hình lựa chọn Heckman để phân tích tiến trình hai bước về sự thích ứng với BDKH của 1.000 nông dân sản xuất cả trồng trọt va chăn nuôi tại lưu vực sông Nile của Ethiopia được khảo sát năm 2004/2005.
Lý lẽ của tác giả lựa chọn mô hình hai giai đoạn là nhận thức của nông dân về BĐKH đến trước, và sau đó mới đến các hành động thích ứng. Quy trình ước lượng hai bước giúp loại bỏ thiện lệch về lựa chọn mẫu khảo sát trong giai đoạn hai. Tuy nhiên, cũng cùng bộ số liệu, trước đó năm 2009 các tác giả đã sử dụng mô hình multinomial logit. Trong nghiên cứu này cho thấy các yếu tô ảnh hưởng mạnh đến sự thích ứng là trình độ học van, qui mô hộ, sản xuất don hay đa ngành, tiếp cận khuyến nông và tín dung, và yếu tô nhiệt độ không khí.
Mohammed và cộng sự (2014) sử dụng mô hình logit để nghiên cứu thích ứng của nông dân đối với sự xuống cấp của môi trường và ảnh hưởng của khí hậu tại quận Sathkhira, vùng bờ biển của Bangladesh. Trong số các mô hình lựa chọn nhị phân: xác suất tuyến tinh, probit và logit, các tác giả đã chọn mô hình logit do tính dé hiểu của kết quả. Biến số phụ thuộc là sự thích ứng, là biến giả dummy trong mô hình, với giá trị = 1 nếu nông dan áp dụng bat kỳ biện pháp thích ứng nào. Các tác giả cũng sử dụng phương pháp thống kê mô tả để xem xét ảnh hưởng của các biến số kinh tế- xã hội ảnh hưởng thế nào đến quyết định thích ứng.
Nghiên cứu của Zelda và cộng sự (2017) chỉ đơn thuần sử dụng phương pháp thống kê mô tả dé hiểu về nhận thức và những chiến lược thích ứng của nông dan tại 3 vùng của Nam Phi. Các kỹ thuật bao gồm phân tích ANOVA một chiều, số trung bình, phân phối tần số, kỹ thuật xếp hang Garrett dé phân tích và so sánh giữa nông dân trồng bắp cải và cà chua tại 3 vùng. Số liệu phục vụ nghiên cứu được khảo sát từ 150 nông dân. Kết quả phân tích cho thay nông dân nhận thức rõ về sự thay đổi của yếu tô khí hậu là nhiệt độ và lượng mưa, đã và đang áp dụng các biện pháp thích ứng, trong đó sử dụng giống chịu hạn là biện pháp phô biến nhất.
Azadi và cộng sự đã sử dụng phân tích thành phan chính PCA dé xác định các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn biện pháp thích ứng của nông dân trồng lúa mì tại quận Kermanshah, phía Tây Iran. Qui mô khảo sát là 350 hộ gia đình theo bảng phỏng vấn bán cấu trúc. Kết quả phân tích theo PCA cho thấy có 3 nhóm thành phần ảnh hưởng chính đến quyết định thích ứng là: các cách thức quản lý đồng ruộng, quản lý tài chính và các chương trình của chính phủ. Các biến quan sát về thích ứng được nhóm vào 3 nhóm.
Tuy nhiên, theo tác giả nhận định thì phương pháp này chỉ có giá trị khảo sát ban đầu để từ đó có các nghiên cứu cụ thể, và rất khó có thé đưa ra những kiến nghị thực tiễn cho nông dân về các biện pháp thích ứng. Mục đích nghiên cứu của Isaac và cộng sự (2020) là các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn giải pháp kỹ thuật thích ứng của nông dân tại 3 vùng sinh thái nông nghiệp khác nhau của Ghana. Đề đạt được mục tiêu đề ra, các tác giả đã áp dụng mô hình multinomial logit để xem xét ảnh hưởng của các yếu tô khác nhau đến quyết định áp dụng các biện pháp thích ứng khác nhau tại mỗi vùng sinh thái. Các biện pháp thích ứng bao gồm sử dụng giống mới, thay đổi lịch trồng, đa dạng hóa cây trồng, biện pháp tưới cải tiến.
Các yếu tố ảnh hưởng bao gồm 3 nhóm: đặc điểm nông hộ, các yếu tô khí hậu và biến cố thời tiết cực đoan. Cũng tại Ethiopia, Mequamnt và cộng sự (2020) thực hiện nghiên cứu tập trung vào 5 nhóm các yếu tô ảnh hưởng đến quyết định áp dụng biện pháp thích ứng của nông dân tại quận Gondar Zuria vùng bán khô hạn, phía tây bắc của Ethiopia. Số liệu sử dụng chính là thông tin được khảo sát 121 nông dân. Mô hình được sử dụng là Multinomial va logit model.
Kết qua của mô hình chỉ rõ các yếu tô nào có ảnh hưởng mạnh nhất đến xác suất áp dụng các biện pháp thích ứng như: tiếp cận thông tin, thu nhập, tiếp cận thị trường. Parida và cộng sự (2023). Dựa trên bối cảnh ngành nông nghiệp ở quận Keonjhar của Ấn Độ đang trải qua những thay đổi trong mô hình trồng trọt. các tác giả thực hiện nghiên cứu khảo sát các động lực chính làm thay đổi mô hình trồng trọt ở huyện.
Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ năm 2011 đến năm 2019 tại các vùng trồng các loại cây nông nghiệp và cây ăn quả ở Keonjhar. Dữ liệu sơ cấp được thu thập bằng phương pháp phỏng van, với qui mô mẫu là 327 hộ nông dân nhỏ từ hai xã trong huyện. Kết quả nghiên cứu cho thấy có những thay đổi tích cực về diện tích được phân bé cho lúa và xoài, nhưng lại có những thay đổi tiêu cực về điện tích được phân bé cho ngô, và cây ho đậu (đậu xanh, đậu trắng. Biến đổi khí hậu, tình trạng thị trường, quyền sở hữu đất đai, giáo dục, sự suy giảm năng suất và sản lượng cây trồng là những nguyên nhân chính dẫn đến những thay đôi về mô hình cây trồng trong vài thập kỷ qua.
Nghiên cứu đã đề xuất biện pháp thâm canh nông nghiệp và định hướng chính sách nhằm thúc day trồng lúa, ngô và xoài dé duy trì sinh kế ở huyện Keonjhar. Nghiên cứu liên quan trong nước Kết quả nghiên cứu của Quan Minh Nhựt (2007) đã cho thấy nông dân đã có nhận được lợi ích kinh tế và môi trường của các mô hình canh tác đa dạng nhằm tận dụng lợi thế tự nhiên tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp phân tích chi phí-lợi ích va phân tích màng bao dữ liệu. Thông tin được thu thập từ hai nhóm nông hộ sản xuất lúa độc canh trong cả ba vụ lúa, và mô hình luân canh hai vụ lúa và một vụ đậu nành.
Kết quả phân tích cho thấy hiệu quả kinh tế và hiệu quả theo quy mô của nhóm hộ sản xuất độc canh ba vụ lúa thấp đáng kể so với các chỉ tiêu này của nhóm hộ sản xuất theo mô hình luân canh hai vụ lúa một vụ đậu nành. Kết quả này cho thấy sự thích ứng với điều kiện tự nhiên của nông hộ là những hành vi xuất phát từ khía cạnh kinh tế và sinh kế của hộ. Dương Quỳnh Thanh và cộng sự (2017) nghiên cứu sự thay đổi cơ cau cây trồng của nông dân theo hướng vào bao dam sinh kế và phát triển nông nghiệp bền vững. Nghiên cứu đã tiến hành phân tích một số khía cạnh về kinh tế và môi trường giữa các mô hình canh tác nhằm đánh giá hiệu quả của hoạt động sản xuất nông nghiệp tại huyện Chợ Mới, tinh An Giang.
Số liệu thu thập từ phỏng van 90 hộ dân và 03 cán bộ chuyên trách nông hộ. Phương pháp thống kê mô tả được sử dụng chính đề đánh giá các mô hình sản xuất nông nghiệp gồm lúa, màu và cây ăn trái. Kết quả chỉ ra rằng địa bàn nghiên cứu đang có xu hướng thay đổi cơ cấu cây trồng từ đất trồng lúa kém hiệu qua sang trồng các loại màu và cây ăn trái mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Những thay đổi bat thường của các yếu tố khí hậu, thời tiết cực đoan như nang han, mua kéo dai phát sinh dịch bệnh bat thường làm gia tăng chi phi san xuất của các mô hình nay do hậu quả của thâm dụng lượng phân bón hóa học và nông dược.
Nguyễn Ngọc Thùy và cộng sự (2021) nghiên cứu này được thực hiện nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới quyết định chuyển đổi cơ câu cây trồng của các nông hộ tại huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận. Số liệu được thu thập thông qua phỏng vấn 110 nông hộ trên địa bàn. Kết quả cho thấy địa phương đã chủ động trong việc chuyền đổi các cây trồng sản xuất không hiệu qua và đã có một số mô hình sản xuất được giới thiệu nhưng kết quả chuyên đổi còn chậm. Một số khó khăn trong việc thúc đây chuyền đôi cây trồng là do chi phí dau tư cao, diện tích sản xuất nhỏ và manh mun, người nông dân đã quen với sản xuất lúa truyền thống.
Sử dụng mô hình hồi quy Binary Logistic, nghiên cứu đã xác định các yếu tô có tác động quyết định chuyên đối cơ cấu cây trồng của nông hộ tại huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận bao gồm: Khoảng cách từ nhà đến chợ/nơi tiêu thụ, trình độ học vấn của người sản xuất chính, tham gia tập huấn, số người phụ thuộc trong gia đình, số lao động trong gia đình và tỷ lệ doanh thu phi nông nghiệp. Đề tài đề xuất ba giải pháp dé thúc đây chuyền đôi cây trồng tại huyện: tăng cường các kế hoạch tiêu thụ sản phẩm, gia tăng tập huấn va áp dụng khoa học công nghệ và sử dụng nguồn nhân lực hợp lý và hiệu quả. V6 Hoàng Hà và cộng sự (2021) thực hiện nghiên cứu xem xét các biện pháp và yêu tô ảnh hưởng đến quyết định thích ứng với biến đổi khí hậu của các hộ nông dân nhỏ có điện tích đất nông nghiệp dưới 0,5 ha, tại huyện ven biển Phú Vang, tinh Thừa Thiên Huế, miền Trung Việt Nam. Mô hình logit nhị phân được áp dụng dé phân tích dữ liệu thu thập được bằng cách phỏng vấn trực tiếp 110 hộ gia đình.
Kết quả cho thay rang hầu hết nông dân nhận thức khá chính xác những thay đổi liên quan đến khí hậu trong thập kỷ gần đây và thực hiện nhiều biện pháp thích ứng khác nhau nhằm nỗ lực giảm bớt những rủi ro tiềm ẩn.