Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Sự bùng nổ của thương mại điện tử đã mang lại khả năng tiếp cận thông tin vượt trội, tạo điều kiện thuận lợi cho người tiêu dùng tìm kiếm và mua sắm các sản phẩm thời trang. Tuy nhiên, nhằm tối ưu hóa lợi nhuận và đáp ứng nhu cầu thay đổi liên tục, nhiều doanh nghiệp đã đẩy mạnh mô hình "thời trang nhanh" (fast fashion) với đặc trưng sản xuất số lượng lớn, độ bền thấp và giá rẻ. Mô hình này dẫn đến tình trạng tiêu dùng thiếu bền vững, gây áp lực nghiêm trọng lên hệ sinh thái toàn cầu. Theo báo cáo của Global Fashion Agenda (GFA, 2017) được trích dẫn trong văn bản, dự kiến đến năm 2030, ngành thời trang sẽ tạo ra khoảng 2.791 triệu tấn khí thải, tiêu thụ 118 tỷ mét khối nước và thải ra 148 triệu tấn rác thải dệt may. Tại Việt Nam, ngành dệt may giữ vị trí thứ hai trong tổng kim ngạch xuất khẩu và đóng góp đáng kể vào Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), nhưng cũng đối mặt với thách thức lớn về môi trường. Sau đại dịch COVID-19, xu hướng chuyển dịch từ thời trang nhanh sang thời trang bền vững (TTBV) ngày càng rõ rệt, đặc biệt trong nhóm người tiêu dùng trẻ tại các đô thị lớn. Khóa luận tập trung nghiên cứu hành vi tiêu dùng sản phẩm thời trang bền vững của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh — nhóm đối tượng có tiềm năng tiêu dùng lớn nhưng chịu tác động đan xen bởi nhiều rào cản kinh tế và xã hội.
Mục tiêu nghiên cứu được xác định cụ thể như sau:
- Mục tiêu chung: Xác định các yếu tố và đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến hành vi tiêu dùng các sản phẩm thời trang bền vững của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh; từ đó đề xuất các hàm ý quản trị nhằm nâng cao hành vi tiêu dùng các sản phẩm này.
- Mục tiêu cụ thể:
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng các sản phẩm thời trang bền vững của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đo lường mức độ tác động của các yếu tố đến hành vi tiêu dùng các sản phẩm thời trang bền vững của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đề xuất các hàm ý quản trị nhằm nâng cao hành vi tiêu dùng các sản phẩm thời trang bền vững của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Các câu hỏi nghiên cứu tương ứng gồm:
- Có những yếu tố nào tác động đến hành vi tiêu dùng các sản phẩm thời trang bền vững của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh?
- Mức độ tác động của các yếu tố đến hành vi tiêu dùng các sản phẩm TTBV của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh như thế nào?
- Hàm ý quản trị nào liên quan đến các yếu tố nhằm nâng cao hành vi tiêu dùng các sản phẩm thời trang bền vững của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh?
Khóa luận xác lập đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố tác động đến hành vi tiêu dùng các sản phẩm thời trang bền vững của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đối tượng khảo sát: Sinh viên (bao gồm cả nam và nữ) đang học tập tại các trường trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đã từng sử dụng sản phẩm thời trang bền vững.
- Phạm vi không gian: Địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu khảo sát và nghiên cứu được triển khai thực hiện từ tháng 4 năm 2024 đến hết tháng 6 năm 2024.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng khung lý thuyết dựa trên các định nghĩa học thuật về hành vi tiêu dùng và tính bền vững. Hành vi người tiêu dùng được hiểu là quá trình ra quyết định liên quan trực tiếp đến việc tìm kiếm, mua sắm, sở hữu, sử dụng và loại bỏ sản phẩm/dịch vụ (Engel & Linrud, 1993; Schiffman et al., 1997; Mowen, 1993; Sheth, 1979). Mô hình lý thuyết của Kotler et al. (2005) hệ thống hóa hành vi này qua 5 giai đoạn: Nhận thức nhu cầu, Tìm kiếm thông tin, Đánh giá phương án, Quyết định mua và Hành vi sau mua. Khái niệm thời trang bền vững được tiếp cận theo định nghĩa của Fletcher (2014), UNEP (2021), Shen et al. (2013), Bianchi & Birtwistle (2010), biểu thị các sản phẩm may mặc tuân thủ nguyên tắc thương mại công bằng, không bóc lột lao động, sử dụng chất liệu hữu cơ có khả năng tự phân hủy hoặc tái chế, giảm thiểu tối đa tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên.
Tác giả vận dụng hai mô hình lý thuyết hành vi xã hội cốt lõi:
- Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA) của Ajzen & Fishbein (1975): Giải thích hành vi tự nguyện thông qua Ý định hành vi, chịu sự chi phối bởi hai thành tố chính là Thái độ đối với hành vi và Chuẩn chủ quan.
- Thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behavior – TPB) của Ajzen (1991): Mở rộng từ TRA bằng cách bổ sung biến Nhận thức kiểm soát hành vi, tác động trực tiếp và gián tiếp (qua ý định) lên hành vi thực tế của cá nhân.
Khóa luận tổng hợp các công trình nghiên cứu thực nghiệm tiền đề trong và ngoài nước để làm căn cứ hình thành mô hình:
| Tác giả & Năm |
Địa bàn & Cỡ mẫu |
Lý thuyết nền |
Các biến tác động chính |
| Rosa Maria Dangelico, Letizia Alvino, Luca Fraccascia (2022) |
Ý (n = 2.694) |
TPB, TRA, VBN |
Mối quan tâm về môi trường (+), Giá trị cảm nhận của sản phẩm (+), Mức độ quen thuộc của người tiêu dùng (+) |
| Theresa Maria Rausch, Christopher Siegfried Kopplin (2020) |
Đức (n = 464) |
TRA, TPB |
Thái độ (+), Nhận thức về môi trường (+), Chuẩn chủ quan (+), Mối quan tâm về Greenwashing (+), Nhận thức về thẩm mỹ (+), Nhận thức về rủi ro kinh tế (+) |
| Lizhu Davis & Chitra Dabas (2021) |
Hoa Kỳ (n = 368) |
TPB |
Nhận thức về sức khỏe (+), Nhận thức về chất lượng sản phẩm (+), Chuẩn mực xã hội (+), Chuẩn mực cá nhân (+), Kiến thức về sản phẩm may mặc hữu cơ (+) |
| Trần Thị Tú Uyên và cộng sự (2021) |
Việt Nam (n = 282) |
TRA, TPB |
Nhận thức về môi trường (+), Nhận thức kiểm soát hành vi (+), Nhận thức sự liên quan đến cá nhân (+), Tính không nhạy cảm về giá (+) |
| Vũ Thị Như Quỳnh và cộng sự (2023) |
Hà Nội, Việt Nam (n = 305) |
TPB |
Mối quan tâm đến môi trường (+), Thái độ người tiêu dùng (+), Điều kiện tài chính (+), Sự tác động từ bên ngoài (+), Sản phẩm thời trang và Marketing xanh (+) |
| Hoàng Trọng Hùng và Huỳnh Thị Thu Quyên (2018) |
Huế, Việt Nam (n = 200) |
TPB |
Thái độ (+), Tính sẵn có của sản phẩm (+), Chuẩn chủ quan (+) |
| Đỗ Thu Ngân và cộng sự (2023) |
Hà Nội, Việt Nam (n = 305) |
TRA, TPB |
Thái độ, Chuẩn mực chủ quan, Nhận thức kiểm soát hành vi, Sự sẵn sàng chi trả, Nhận thức về môi trường và xã hội, Phong cách thời trang |
Từ khoảng trống nghiên cứu tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, tác giả thiết lập 5 giả thuyết nghiên cứu hướng tới biến phụ thuộc "Hành vi tiêu dùng các sản phẩm thời trang bền vững" (HV):
- H1: Nhận thức về môi trường có ảnh hưởng cùng chiều đến hành vi tiêu dùng các sản phẩm thời trang bền vững của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- H2: Thái độ có tác động cùng chiều đến hành vi tiêu dùng các sản phẩm thời trang bền vững của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- H3: Kiến thức về thời trang bền vững có ảnh hưởng cùng chiều đến hành vi tiêu dùng của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- H4: Tính không nhạy cảm về giá có ảnh hưởng cùng chiều đến hành vi tiêu dùng các sản phẩm thời trang bền vững của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- H5: Chuẩn chủ quan có ảnh hưởng cùng chiều đến hành vi tiêu dùng các sản phẩm thời trang bền vững của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa định tính và định lượng:
- Nghiên cứu định tính: Tổng hợp, hệ thống hóa tài liệu học thuật và lấy ý kiến chuyên gia cùng Giảng viên hướng dẫn (TS. Nguyễn Thị Thanh Nhàn) nhằm điều chỉnh thang đo phù hợp với bối cảnh sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh.
- Nghiên cứu định lượng: Sử dụng bảng câu hỏi khảo sát trực tuyến. Thang đo gồm 24–25 biến quan sát được đo lường bằng thang Likert. Kích thước mẫu được xác định theo nguyên tắc của Nguyễn Đình Thọ (2011), với tỷ lệ tối thiểu 5 mẫu cho 1 biến quan sát (5 * 25 = 125 mẫu). Tác giả lựa chọn quy mô khảo sát thực tế là 250 mẫu sinh viên có kinh nghiệm tiêu dùng sản phẩm thời trang bền vững.
- Phương pháp phân tích số liệu: Dữ liệu sơ cấp được xử lý bằng phần mềm SPSS 26 thông qua các bước:
- Phân tích thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình Mean, Min, Max).
- Đánh giá độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha (chấp nhận hệ số từ 0.6 trở lên).
- Phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis - EFA) với các tiêu chuẩn: KMO > 0.5; kiểm định Bartlett có Sig. < 0.05; Eigenvalue > 1; Tổng phương sai trích (TVE) > 50%; Hệ số tải nhân tố (Factor Loading) > 0.5.
- Phân tích tương quan tuyến tính Pearson (hệ số r trong khoảng -1 đến 1, Sig. < 0.05).
- Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến theo phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS), đánh giá hệ số $R^2$ hiệu chỉnh, kiểm định F, hiện tượng đa cộng tuyến qua hệ số phóng đại phương sai (VIF < 10) và tự tương quan qua hệ số Durbin-Watson (từ 1 đến 3).
Chi tiết hệ thống thang đo được tác giả xây dựng:
| Nhóm biến |
Mã hóa |
Nội dung biến quan sát |
Nguồn kế thừa |
| Nhận thức về môi trường (NT) |
NT1 |
Tôi cảm thấy môi trường có tác động lớn đến đời sống của tôi. |
Theresa Maria Rausch & Christopher Siegfried Kopplin (2020); Trần Thị Tú Uyên và cộng sự (2021) |
|
NT2 |
Tôi quan tâm và theo dõi các thông tin về môi trường. |
|
|
NT3 |
Tôi lo ngại rằng con người sẽ gây thiệt hại nặng nề đến môi trường. |
|
|
NT4 |
Tôi thường nghĩ về khả năng phát triển tiêu cực của tình hình môi trường hiện nay. |
|
|
NT5 |
Tôi nghĩ mình có trách nhiệm phải hành động vì môi trường. |
|
| Thái độ (TĐ) |
TĐ1 |
Tôi có suy nghĩ tích cực về việc mua sắm các sản phẩm thời trang bền vững. |
Hoàng Trọng Hùng & Huỳnh Thị Thu Quyên (2018); Theresa Maria Rausch & Christopher Siegfried Kopplin (2020) |
|
TĐ2 |
Tôi thích ý tưởng tiêu dùng các sản phẩm thời trang bền vững thay vì các sản phẩm thông thường để bảo vệ môi trường. |
|
|
TĐ3 |
Tôi có thái độ ủng hộ đối với việc tiêu dùng các sản phẩm thời trang bền vững. |
|
|
TĐ4 |
Tiêu dùng các sản phẩm thời trang bền vững là một hành động đúng đắn. |
|
| Kiến thức về thời trang bền vững (KT) |
KT1 |
Tôi thấy các sản phẩm thời trang bền vững rất quen thuộc. |
Lizhu Davis & Chitra Dabas (2021) |
|
KT2 |
Tôi cảm thấy mình biết nhiều thông tin về các sản phẩm thời trang bền vững. |
|
|
KT3 |
Tôi là người đã có kinh nghiệm trong việc sử dụng các sản phẩm thời trang bền vững. |
|
|
KT4 |
Tôi cảm thấy mình là chuyên gia trong việc tiêu dùng các sản phẩm thời trang bền vững. |
|
| Tính không nhạy cảm về giá (NC) |
NC1 |
Tôi sẵn sàng chi trả mức giá cao hơn cho sản phẩm thời trang bền vững có nguyên liệu thân thiện với môi trường. |
Trần Thị Tú Uyên và cộng sự (2021) |
|
NC2 |
Tôi sẵn sàng chi trả mức giá cao hơn cho các sản phẩm bền hơn để giảm tần suất mua hàng. |
|
|
NC3 |
Tôi sẵn sàng chi trả mức giá cao hơn cho các sản phẩm được làm từ vật liệu an toàn với sức khỏe. |
|
|
NC4 |
Tôi sẵn sàng chi trả mức giá cao hơn cho các sản phẩm khiến tôi thỏa mãn hơn (tự tin, thoải mái, tăng giá trị bản thân). |
|
| Chuẩn chủ quan (CCQ) |
CCQ1 |
Quyết định mua sắm của tôi chịu ảnh hưởng của những người trong gia đình. |
Hoàng Trọng Hùng & Huỳnh Thị Thu Quyên (2018); Đỗ Thu Ngân (2023) |
|
CCQ2 |
Hầu hết những người thân của tôi đều nghĩ rằng tôi nên tiêu dùng sản phẩm thời trang bền vững. |
|
|
CCQ3 |
Các phương tiện thông tin đại chúng (báo, đài, TV, internet…) hiện nay đưa nhiều thông tin về sản phẩm thời trang bền vững. |
|
|
CCQ4 |
Nhiều người xung quanh tôi đều sử dụng sản phẩm thời trang bền vững. |
|
| Hành vi tiêu dùng TTBV (HV) |
HV1 |
Tôi mua sắm các sản phẩm thời trang bền vững có tính ứng dụng cao (dễ phối đồ, mặc được nhiều dịp). |
Hoàng Trọng Hùng & Huỳnh Thị Thu Quyên (2018); Trần Thị Tú Uyên và cộng sự (2021) |
|
HV2 |
Tôi mua sắm các sản phẩm thời trang bền vững có chất lượng cao (chất liệu bền, đường may chắc chắn, công nghệ cao). |
|
|
HV4 |
Tôi bảo quản (giặt, phơi, là ủi) các sản phẩm thời trang bền vững đúng theo hướng dẫn của nhà sản xuất. |
|
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu
Chương mở đầu phân tích bối cảnh phát triển của ngành công nghiệp may mặc và tác động tiêu cực của xu hướng "thời trang nhanh" đối với môi trường toàn cầu cũng như tại Việt Nam. Tác giả nhấn mạnh sự thay đổi nhận thức tiêu dùng của người trẻ sau giai đoạn dịch bệnh COVID-19 và tiềm năng của phân khúc sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh. Chương này xác định rõ mục tiêu nghiên cứu (chung và cụ thể), 3 câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu (các nhân tố ảnh hưởng) và đối tượng khảo sát (sinh viên đã từng dùng sản phẩm thời trang bền vững). Phạm vi nghiên cứu được giới hạn về không gian tại Thành phố Hồ Chí Minh và thời gian từ tháng 4 đến hết tháng 6 năm 2024. Ngoài ra, tác giả nêu bật đóng góp lý thuyết trong việc hệ thống hóa khái niệm và đóng góp thực tiễn cho doanh nghiệp dệt may trong việc hoạch định chiến lược kinh doanh bền vững.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Chương 2 trình bày có hệ thống các khái niệm cốt lõi: hành vi tiêu dùng, tiến trình 5 giai đoạn ra quyết định mua của Kotler (2005) và khái niệm thời trang bền vững gắn với các tiêu chuẩn xã hội và môi trường. Tác giả phân tích sâu hai lý thuyết nền tảng gồm Thuyết hành vi hợp lý (TRA) và Thuyết hành vi dự định (TPB). Từ việc rà soát và so sánh 7 công trình nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước (Dangelico et al., 2022; Rausch & Kopplin, 2020; David & Dabas, 2021; Trần Thị Tú Uyên et al., 2021; Vũ Thị Như Quỳnh et al., 2023; Hoàng Trọng Hùng et al., 2018; Đỗ Thu Ngân et al., 2023), tác giả chỉ ra khoảng trống về việc thiếu vắng nghiên cứu chuyên sâu về nhóm khách hàng sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới. Trên cơ sở đó, tác giả thiết lập mô hình nghiên cứu đề xuất gồm 5 biến độc lập (Nhận thức về môi trường, Thái độ, Kiến thức về thời trang bền vững, Tính không nhạy cảm về giá, Chuẩn chủ quan) tác động lên biến phụ thuộc là Hành vi tiêu dùng các sản phẩm thời trang bền vững qua 5 giả thuyết từ H1 đến H5.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 trình bày chi tiết quy trình nghiên cứu hai bước: nghiên cứu định tính (tổng thuật lý thuyết, thảo luận chuyên gia và giảng viên hướng dẫn để chuẩn hóa thang đo) và nghiên cứu định lượng (khảo sát bằng bảng hỏi). Tác giả xây dựng bảng khảo sát gồm 4 phần: câu hỏi sàng lọc (kinh nghiệm đã dùng TTBV), thông tin chung (giới tính, sinh viên năm mấy, mức chi tiêu trung bình hàng tháng), nội dung thang đo chính thức 25 biến quan sát và phần cảm ơn. Kích thước mẫu n = 250 được luận giải dựa trên quy tắc tỷ lệ biến quan sát tối thiểu 5:1 của Nguyễn Đình Thọ (2011). Toàn bộ quy trình phân tích định lượng trên phần mềm SPSS 26 được xác lập chặt chẽ từ thống kê mô tả, kiểm định Cronbach's Alpha (ngưỡng >= 0.6), phân tích nhân tố khám phá EFA (KMO, Bartlett, Eigenvalue, phương sai trích, hệ số tải), phân tích tương quan Pearson đến hồi quy tuyến tính đa biến OLS và kiểm tra các vi phạm giả định (VIF, Durbin-Watson).
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 4 thể hiện kết quả phân tích dữ liệu thực nghiệm từ 250 mẫu hợp lệ. Tác giả thực hiện thống kê mô tả các đặc điểm nhân khẩu học và mức chi tiêu hàng tháng của sinh viên. Đánh giá độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronbach's Alpha cho thấy các thang đo đều đạt yêu cầu độ tin cậy. Phân tích nhân tố khám phá EFA cho các biến độc lập và biến phụ thuộc xác nhận tính giá trị hội tụ và phân biệt của các thang đo. Phân tích tương quan Pearson khẳng định mối liên hệ tuyến tính giữa các biến độc lập với biến phụ thuộc. Kết quả hồi quy tuyến tính OLS xác nhận mức độ giải thích của mô hình thông qua hệ số $R^2$ hiệu chỉnh và kiểm định F. Các giả định hồi quy không bị vi phạm (hệ số VIF < 10 không có hiện tượng đa cộng tuyến, Durbin-Watson đạt giá trị phù hợp, biểu đồ Normal P-P plot và Scatter plot xác nhận phần dư phân phối chuẩn). Tác giả so sánh các phát hiện với nghiên cứu đi trước, chỉ ra rằng nhận thức môi trường, thái độ và kiến thức là động lực chính, trong khi tính nhạy cảm về giá và chuẩn chủ quan mang tính rào cản.
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị
Chương cuối tóm tắt toàn diện các kết quả nghiên cứu định lượng và đề xuất các nhóm hàm ý quản trị thực tiễn cho doanh nghiệp thời trang theo từng nhân tố:
- Đối với Nhận thức về môi trường: Đẩy mạnh các chiến dịch truyền thông giáo dục ý thức bảo vệ môi trường và trách nhiệm xã hội.
- Đối với Thái độ: Định vị hình ảnh thời trang bền vững là lựa chọn văn minh, tích cực và đúng đắn.
- Đối với Kiến thức về thời trang bền vững: Cung cấp thông tin minh bạch về nguồn gốc vật liệu, quy trình sản xuất an toàn và nhãn mác sinh thái.
- Đối với Tính không nhạy cảm về giá: Tối ưu hóa chuỗi cung ứng nhằm đưa ra các mức giá hợp lý, có các dòng sản phẩm TTBV giá cả phải chăng tiếp cận sinh viên.
- Đối với Chuẩn chủ quan: Tận dụng truyền thông đa phương tiện và tầm ảnh hưởng từ gia đình, bạn bè để lan tỏa xu hướng tiêu dùng bền vững.
Chương này cũng chỉ ra các hạn chế về quy mô mẫu, phạm vi địa lý và gợi mở các hướng nghiên cứu tiếp theo.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận chỉ ra rằng hành vi tiêu dùng thời trang bền vững của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh chịu sự tác động đồng thời của các yếu tố nhận thức, tâm lý cá nhân và rào cản kinh tế:
- Nhận thức về môi trường, thái độ tích cực và kiến thức về thời trang bền vững là ba yếu tố then chốt thúc đẩy mạnh mẽ hành vi tiêu dùng. Sinh viên có nhận thức rõ ràng về tác động tiêu cực của ngành dệt may đến hệ sinh thái và có hiểu biết cụ thể về vật liệu, quy trình sản xuất bền vững sẽ có xu hướng ủng hộ và đưa ra quyết định mua sắm sáng suốt hơn.
- Ngược lại, tính nhạy cảm với giá cả và chuẩn chủ quan có xu hướng tạo ra rào cản đối với hành vi tiêu dùng sản phẩm thời trang bền vững. Do hạn chế về ngân sách cá nhân, sinh viên nhạy cảm về giá thường có xu hướng ưu tiên các sản phẩm thời trang giá rẻ (thời trang nhanh), bất chấp các tác động môi trường. Đồng thời, các chuẩn mực cá nhân coi trọng việc chạy theo xu hướng mốt mới nhất cũng lấn át sự quan tâm đến tính bền vững.
Từ các phát hiện thực nghiệm, tác giả đề xuất nhóm giải pháp quản trị cho doanh nghiệp may mặc:
- Xây dựng chiến lược tiếp thị giáo dục nhận thức và cung cấp thông tin minh bạch về nguồn gốc nguyên liệu hữu cơ, khả năng tự phân hủy hoặc tái chế của sản phẩm.
- Thiết lập chính sách giá linh hoạt, phát triển các dòng sản phẩm thời trang bền vững có mức giá phải chăng nhằm giảm bớt rào cản tài chính đối với phân khúc người tiêu dùng trẻ là sinh viên.
Đóng góp tự nêu của khóa luận:
- Về mặt lý thuyết: Hệ thống hóa và tích hợp thành công hai mô hình TRA và TPB vào nghiên cứu hành vi tiêu dùng thời trang bền vững tại một đô thị đang phát triển như Thành phố Hồ Chí Minh, hoàn thiện bộ thang đo thực nghiệm phù hợp với đối tượng sinh viên.
- Về mặt thực tiễn: Cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng cụ thể giúp các nhà quản trị thương hiệu thời trang định vị sản phẩm, thiết kế thông điệp truyền thông và hoạch định chính sách phân phối - định giá phù hợp để thúc đẩy tiêu dùng xanh tại Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tự nêu các hạn chế xuất phát từ phạm vi và điều kiện thực hiện:
- Hạn chế về phạm vi và mẫu nghiên cứu: Khảo sát được thực hiện trên cỡ mẫu 250 sinh viên tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian ngắn (từ tháng 4/2024 đến tháng 6/2024), sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện/ngẫu nhiên nên khả năng đại diện cho toàn bộ đối tượng người tiêu dùng trẻ trên quy mô toàn quốc còn hạn chế.
- Hạn chế về biến nghiên cứu: Mô hình mới chỉ tập trung vào 5 nhóm nhân tố chính (Nhận thức môi trường, Thái độ, Kiến thức TTBV, Tính không nhạy cảm về giá, Chuẩn chủ quan), chưa xem xét sâu các yếu tố điều tiết hoặc trung gian khác như hiện tượng "Greenwashing" (tẩy xanh) hay phong cách thời trang cá nhân.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả đề xuất:
- Mở rộng quy mô mẫu và địa bàn khảo sát sang các thành phố và khu vực địa lý khác ngoài Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bổ sung đối tượng khảo sát sang các nhóm nhân khẩu học khác (như người đã đi làm có thu nhập ổn định) để có sự so sánh đa chiều.
- Ứng dụng các mô hình phân tích cấu trúc tuyến tính nâng cao (như PLS-SEM) nhằm kiểm định các mối quan hệ gián tiếp và biến điều tiết phức tạp hơn.
Giá trị tham khảo
Công trình nghiên cứu có giá trị thực tiễn đối với:
- Sinh viên, học viên ngành Quản trị kinh doanh, Marketing, Kinh tế thương mại: Cung cấp tài liệu tham khảo hoàn chỉnh về cấu trúc khóa luận định lượng chuẩn mực, phương pháp xây dựng mô hình nghiên cứu kế thừa từ các lý thuyết nền tảng (TRA, TPB) và quy trình xử lý dữ liệu khảo sát bằng phần mềm SPSS 26.
- Nhà nghiên cứu về tiêu dùng bền vững: Tham khảo bộ thang đo gồm 25 biến quan sát được chuyển ngữ và chuẩn hóa phù hợp với bối cảnh ngành thời trang Việt Nam.
- Các nhà quản lý, doanh nghiệp dệt may và thương hiệu thời trang: Khai thác các dữ liệu về tâm lý và rào cản chi tiêu của sinh viên để xây dựng chiến lược truyền thông sản phẩm xanh và hoạch định chính sách định giá hợp lý cho phân khúc khách hàng thế hệ trẻ.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận sử dụng cỡ mẫu khảo sát là bao nhiêu và đối tượng khảo sát cụ thể là ai?
Khóa luận khảo sát 250 sinh viên (bao gồm cả nam và nữ) đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, với điều kiện bắt buộc là đã từng sử dụng các sản phẩm thời trang bền vững. Khảo sát được thu thập từ tháng 4 năm 2024 đến hết tháng 6 năm 2024.
2. Mô hình nghiên cứu kế thừa những nền tảng lý thuyết nào?
Tác giả kế thừa 3 nền tảng lý thuyết chính: Mô hình lý thuyết hành vi người tiêu dùng 5 giai đoạn của Kotler et al. (2005), Thuyết hành động hợp lý (TRA) của Fishbein & Ajzen (1975) và Thuyết hành vi dự định (TPB) của Ajzen (1991).
3. Những yếu tố nào đóng vai trò là động lực thúc đẩy và yếu tố nào là rào cản đối với hành vi tiêu dùng thời trang bền vững của sinh viên trong nghiên cứu này?
Theo kết quả nghiên cứu, Nhận thức về môi trường, Thái độ tích cực và Kiến thức về thời trang bền vững là những yếu tố then chốt thúc đẩy hành vi tiêu dùng. Ngược lại, Tính nhạy cảm về giá (sinh viên ưu tiên giá rẻ bất chấp tác động môi trường) và Chuẩn chủ quan (khi sinh viên đặt nặng xu hướng thời trang nhanh hơn tính bền vững) là các rào cản tiêu cực đến hành vi này.
4. Dữ liệu sơ cấp được xử lý bằng công cụ và các kỹ thuật phân tích nào?
Toàn bộ dữ liệu được phân tích trên phần mềm SPSS 26, trải qua các bước kỹ thuật: Thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ, Mean, Min, Max), Đánh giá độ tin cậy Cronbach's Alpha, Phân tích nhân tố khám phá (EFA), Phân tích tương quan Pearson, Hồi quy tuyến tính OLS và kiểm định các giả định hồi quy (đa cộng tuyến VIF, tự tương quan Durbin-Watson, phân phối chuẩn phần dư qua biểu đồ P-P plot và Scatter plot).
5. Khóa luận kế thừa thang đo từ những công trình nghiên cứu tiêu biểu nào?
Hệ thống thang đo của khóa luận được tổng hợp và điều chỉnh từ các nghiên cứu của Theresa Maria Rausch & Christopher Siegfried Kopplin (2020), Trần Thị Tú Uyên và cộng sự (2021), Lizhu Davis & Chitra Dabas (2021), Hoàng Trọng Hùng & Huỳnh Thị Thu Quyên (2018) và Đỗ Thu Ngân (2023).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Thị Hương Giang (2024) tại Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh đã thực hiện việc xác định và đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng thời trang bền vững của 250 sinh viên thông qua mô hình tích hợp TRA và TPB. Các phân tích định lượng trên SPSS 26 đã xác nhận vai trò thúc đẩy quan trọng của nhận thức môi trường, thái độ và kiến thức, đồng thời làm rõ rào cản từ tính nhạy cảm về giá và chuẩn chủ quan theo xu hướng nhanh. Các hàm ý quản trị được đề xuất từ kết quả thực nghiệm mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho các doanh nghiệp dệt may trong việc định vị dòng sản phẩm xanh và xây dựng chính sách tiếp cận thế hệ người tiêu dùng trẻ tại Việt Nam.