Đặt vấn đề. Chương đầu tiên của bài nghiên cứu nhằm đưa ra tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu, mục tiêu, câu hỏi, ý nghĩa, đối tượng và phạm vi của nghiên cứu. Bên cạnh đó là tìm hiểu những nghiên cứu đi trước, chỉ ra những khoảng trống của những nghiên cứu trước, từ đó tiến hành bổ sung và đưa ra những đóng góp mới ở những chương tiếp theo. CHƯƠNG 2: Cơ sở lý luận.
Nội dung của chương 2 là trình bày khái niệm, vai trò và đặc điểm của tiêu dùng từ đó liên hệ đến thuật ngữ thời trang bền vững. CHƯƠNG 3: Giả thuyết và mô hình nghiên cứu. Ở chương này, giải thích lý do lựa chọn các biến mà nhóm đưa vào trong mô hình nghiên cứu. Diễn giải tác động của từng biến đó đến hành vi tiêu dùng thời trang bền vững dựa theo những nghiên cứu đi trước, từ đó xây dựng mô hình nghiên cứu.
CHƯƠNG 4: Thiết kế nghiên cứu. Trong chương 4 đề cập đến quy trình nghiên cứu, thang đo sử dụng, tiếp cận nghiên cứu, phương pháp chọn mẫu, phương pháp thu thập thông tin và xử lý dữ liệu, kế hoạch phân tích và xử lý số liệu. CHƯƠNG 5: Kết quả nghiên cứu. Trên cơ sở dữ liệu thứ cấp và sơ cấp thu được, chương 5 tập trung phân tích và đưa ra những đánh giá về thực trạng tiêu dùng thời trang bền vững tại Việt Nam.
Đồng thời đo lường và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng thời trang bền vững của sinh viên tại Hà Nội. CHƯƠNG 6: Kết luận và kiến nghị. Đây là chương cuối cùng của bài nghiên cứu. Chương này được chia làm 2 phần nhỏ.
Phần đầu tiên đó là Kết luận tóm tắt kết quả, hạn chế rút ra từ các chương của bài nghiên cứu và chỉ ra nhân tố mới và sự tác động của nhân tố đó. Phần còn lại đề xuất 20 các giải pháp để giúp thúc đẩy hành vi tiêu dùng bền vững từ đó bảo vệ môi trường và xã hội. 21 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. Tổng quan về tiêu dùng 2.
Khái niệm tiêu dùng Tiêu dùng (Consumption) được hiểu là quá trình sử dụng và tiêu thụ các sản phẩm, dịch vụ và tài nguyên để đáp ứng nhu cầu của con người. Nó bao gồm tất cả các hoạt động liên quan đến mua, sử dụng và tiêu hao các sản phẩm và dịch vụ bao gồm cả đồ dùng cá nhân, thực phẩm, quần áo, điện thoại di động. Vai trò của tiêu dùng Tiêu dùng là một phần quan trọng của bất kỳ nền kinh tế nào trên thế giới. Tuy nhiên cho tới nay, vai trò của tiêu dùng đối với tăng trưởng phát triển vẫn còn là một vấn đề tranh cãi đối với các nhà kinh tế học.
Nhiều học thuyết kinh tế cho rằng, tăng trưởng chủ yếu do tiết kiệm và đầu tư, tiêu dùng đóng vai trò không quan trọng, tuy nhiên một số các học thuyết khác (trong đó có học thuyết của Keynes) lại đề cao vai trò của tổng cầu và tiêu dùng. Trong những năm gần đây, các nghiên cứu thực nghiệm ở nhiều quốc gia cũng đưa ra các kết quả trái ngược nhau về vai trò của tiêu dùng trong nền kinh tế. Một số nghiên cứu ở các nước đang phát triển, các nước phụ thuộc nhiều vào tài nguyên và xuất khẩu chỉ ra rằng, tiêu dùng không đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế. Trong khi đó, nhiều các nghiên cứu thực nghiệm khác, đặc biệt các nghiên cứu đối với các quốc gia phát triển, lại cho rằng tiêu dùng có ý nghĩa quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế.
Các nghiên cứu này cho thấy tiêu dùng có mối quan hệ qua lại hai chiều với tăng trưởng kinh tế, theo đó tiêu dùng sẽ là đầu ra của sản xuất và là động lực thúc đẩy tăng trưởng đầu tư cũng như tăng trưởng kinh tế, ở chiều ngược lại tăng trưởng kinh tế giúp tăng thu nhập các hộ gia đình, từ đó thúc đẩy tiêu dùng. Ở Việt Nam trong những năm qua, tăng trưởng kinh tế ở mức khá cao, tuy nhiên với đặc điểm là một quốc gia đang phát triển, tăng trưởng kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào tăng vốn đầu tư toàn xã hội và xuất khẩu. Do đó, các yếu tố về vốn đầu tư và xuất khẩu được quan tâm đặc biệt, trong khi đó vai trò tiêu dùng trong tăng trưởng kinh tế còn chưa được chú ý. Tuy nhiên, kinh tế Việt Nam phát triển tương đối nhanh, tiêu dùng chiếm một phần không nhỏ trong GDP.
Bên cạnh đó, dư địa về tăng trưởng, thu hút vốn đầu tư đã bị hạn chế, xuất khẩu tăng trưởng nhanh nhưng có thể chịu những tác động động tiêu cực do chiến tranh thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc đòi hỏi phải có những nhìn nhận lại đối với các động lực của tăng trưởng, cũng như chiến lược phát triển kinh tế. Việc xác định vai trò, vị trí của tiêu dùng trong nền kinh tế giúp xây dựng chiến lược, chính sách phát triển kinh tế, là quyết định đưa ra các gói kích cầu nền kinh tế khi xảy ra khủng 22 hoảng. Hiện nay còn có tương đối ít các nghiên cứu trong nước đề cập sâu về mối quan hệ giữa tiêu dùng tư nhân và tăng trưởng kinh tế. Do đó việc đánh giá kỹ lưỡng vai trò của tiêu dùng đối với nền kinh tế Việt Nam là cần thiết cả về lý thuyết và thực tiễn.
Các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu dùng Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng của con người, trong đó bao gồm: - Thu nhập: thu nhập của mỗi người sẽ ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng của họ. Nếu người tiêu dùng có thu nhập cao, họ sẽ có xu hướng tiêu dùng nhiều hơn và mua các sản phẩm và dịch vụ đắt tiền hơn. Ngược lại, nếu thu nhập của họ thấp, họ sẽ có xu hướng tiêu dùng ít hơn và tìm kiếm các sản phẩm và dịch vụ giá rẻ hơn. - Giới tính: giới tính có thể ảnh hưởng đến sở thích và nhu cầu tiêu dùng của con người.
Ví dụ phụ nữ có xu hướng tiêu dùng nhiều hơn đối với các sản phẩm làm đẹp và thời trang hơn là nam giới. - Độ tuổi: độ tuổi của người tiêu dùng cũng có thể ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng của họ. Ví dụ người trẻ tuổi có xu hướng tiêu dùng nhiều hơn đối với các sản phẩm công nghệ, thời trang, giải trí và du lịch. - Vùng địa lý: vùng địa lý cũng có thể ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng của con người.
Ví dụ những người sống ở thành phố có xu hướng tiêu dùng nhiều hơn đối với các sản phẩm và dịch vụ cao cấp, trong khi người sống ở nông thôn có xu hướng tiêu dùng ít hơn và tìm kiếm các sản phẩm và dịch vụ giá rẻ hơn. - Văn hoá và giá trị: văn hoá và giá trị của mỗi cá nhân cũng có thể ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng của họ. Ví dụ những người có gia đình đông thành viên có thể có xu hướng tiêu dùng nhiều hơn đối với các sản phẩm và dịch vụ gia đình nhiều hơn. - Truyền thông: những thông điệp từ truyền thông có thể ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng của người dân.
Ví dụ các quảng cáo và thông điệp truyền thông có thể ảnh hưởng đến sở thích và nhu cầu tiêu dùng của người tiêu dùng. - Tình trạng kinh tế: tình trạng kinh tế chung của một quốc gia hay khu vực có thể ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng của người dân. Nếu nền kinh tế đang phát triển, người tiêu dùng có thể có xu hướng tiêu dùng nhiều hơn, còn nếu đang gặp khó khăn, họ có thể tiêu dùng ít hơn. - Tình trạng sức khỏe và môi trường: tình trạng sức khỏe và môi trường cũng có thể ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng của người dân.
Ví dụ nếu một bệnh dịch lan rộng, người dân có thể tìm cách mua thêm các sản phẩm liên quan đến sức khoẻ và 23 kháng khuẩn. Ngoài ra người tiêu dùng có thể tìm kiếm các sản phẩm và dịch vụ thân thiện với môi trường. Bền vững Thuật ngữ “bền vững” lần đầu tiên được sử dụng vào năm 1713 trong lĩnh vực lâm nghiệp với nghĩa là không bao giờ khai thác nhiều hơn sản lượng rừng trong thời kỳ tăng trưởng mới. Sau đó, nó thu hút sự chú ý của các nhà kinh tế học mà một trong những chủ đề chính là sự khan hiếm khác.
Tuy nhiên, lần đầu tiên nó được công nhận là một khái niệm chính sách, nơi nó được công bố trong Báo cáo Brundtland năm 1987. Mặc dù tính bền vững là một khái niệm chung và nó chỉ có thể được tạo ra nếu nó được chấp nhận và cải thiện bởi tất cả mọi người, các công ty và các viện phục vụ người dân, quốc gia, chính phủ và toàn cầu nói chung, ba yêu cầu đối với khái niệm bền vững nên được thăm quan để hiểu được tính toàn vẹn của nó từ các khía cạnh của thị trường tiêu thụ và người tiêu dùng. Trước hết, khái niệm bền vững yêu cầu phát triển bền vững đã được Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới định nghĩa là “đáp ứng các nhu cầu của hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng của các thế hệ tương lai đáp ứng nhu cầu của chính họ” (WCED 1987, số 8). Vì vậy, phát triển bền vững không chỉ liên quan đến thế hệ người tiêu dùng của họ mà còn liên quan đến các thế hệ tiếp theo.
Phát triển bền vững có thể thực hiện được với việc sản xuất và sử dụng các sản phẩm có thể duy trì bằng cách cân bằng các khía cạnh sinh thái, kinh tế và xã hội. Về khía cạnh này, các sản phẩm bền vững từ vật liệu xanh cần được thiết kế và sản xuất theo cách thân thiện với môi trường và chúng phải được đưa ra thị trường với mục tiêu loại bỏ túi ni lông ngay từ đầu, giảm lượng khí CO2 phát thải, việc tuân thủ các quy tắc ứng xử nội bộ tốt (liên quan đến lao động trẻ em), cải thiện thực hành việc làm (lương nam/nữ ngang bằng, thuê lao động khuyết tật) (Lavorata 2014). Song song với phát triển bền vững, việc tiêu dùng bền vững cần được người tiêu dùng coi trọng.