Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu Trình bày lý do chọn đề tài, tổng quan các nghiên cứu liên quan, xác định mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và kết cấu đề tài. Đồng thời giới thiệu sơ lược về Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất. Trình bày cơ sở lý thuyết về động lực làm việc.
Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới và trong nước làm cơ sở cho việc đề xuất mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trình bày thiết kế phương pháp nghiên cứu và quy trình nghiên cứu. Thực hiện các bước nghiên cứu định tính; các bước nghiên cứu định lượng. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Thực hiện các bước phân tích và đưa ra kết quả nghiên cứu như: Đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach Alpha; phân tích nhân tố khám phá (EFA); phân tích hồi quy đa biến; phân tích ANOVA các đặc điểm ảnh hưởng đến động lực làm việc của người lao động.
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị 12 Kết luận kết quả nghiên cứu, đề xuất một số hàm ý quản trị, đưa ra những hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo của luận văn. 13 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT 2.1 Khái niệm về động lực và động lực làm việc Trong tình hình kinh doanh hội nhập ngày càng sâu rộng và cạnh tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước, mỗi doanh nghiệp cần tập trung nâng cao năng lực cạnh tranh là mục tiêu hàng đầu. Để đạt được mục tiêu này, doanh nghiệp cần nỗ lực hoàn thiện công tác quản lý để sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực trong quá trình sản xuất kinh doanh, trong đó có nguồn lực con người. Nói chung, hiệu suất của nhân viên phụ thuộc vào một số lượng lớn các yếu tố, chẳng hạn như động lực, đánh giá, hài lòng công việc, chế độ phúc lợi…, nhưng bài viết này chỉ tập trung vào động lực của nhân viên.
Dẫn dắt các nhân viên đạt được tiềm năng đầy đủ của họ trong công việc trong điều kiện căng thẳng là một thách thức khó khăn, nhưng điều này có thể đạt được bằng cách thúc đẩy họ.1 Khái niệm động lực Động lực làm việc (work motivation) được định nghĩa là “Sự sẵn lòng thể hiện mức độ cao của nỗ lực để hướng tới các mục tiêu của tổ chức, trong điều kiện một số nhu cầu cá nhân được thỏa mãn theo khả năng nỗ lực của họ” (Robbins, 1998). “Động lực thể hiện quá trình tâm lý tạo ra sự thức tỉnh, định hướng, và kiên trì thực hiện của các hoạt động tự nguyện nhằm đạt mục tiêu” (Mitchell, 1982). Hay nói cách khác động lực là lý do hoặc là các lý do mà nhân viên làm việc, duy trì làm việc và đóng góp tích cực cho môi trường làm việc của mình. Để đạt được mục tiêu, cá nhân cần hiểu rõ những gì họ đạt được, cần phải được khuyến khích và có nhiệt tình, tự nguyện cam kết để đạt được mục tiêu.
Động lực làm chúng ta chuyển từ trạng thái chán nản thành thích thú (Islam và Ismail, 2008). Miner, Ebrahimi, và Wachtel, (1995): “Động lực là một quá trình tâm lý cơ bản. Cùng với nhận thức, tính cách, thái độ, và học, động lực là một yếu tố rất quan trọng của hành vi”. Tuy nhiên, động lực không phải là giải thích duy nhất của hành vi.
Nó tương tác với và hoạt động kết hợp với quá trình nhận thức khác. Luthans, (1998): “Động lực là quá trình quản lý ảnh hưởng đến hành vi dựa trên những kiến thức mà con người cóp nhặt và trải nghiệm”. Luthans (1998): “Khẳng định rằng 14 động lực là quá trình mà tạo ra năng lượng, điều khiển, duy trì hành vi và hiệu quả làm việc”. Luthan (1998): “Khẳng định rằng động cơ không nên được coi là lời giải thích duy nhất của hành vi, bởi vì nó tương tác với hành động kết hợp với quá trình trung gian khác và với môi trường.
Thừa nhận vai trò trung tâm của động lực làm việc”, Evans (1998): “Khẳng định nhiều giả thuyết gần đây của hành vi tổ chức có vai trò quan trọng đối với động lực làm việc của người lao động”. Burney và cộng sự (2007): “Mức độ hiệu quả làm việc của nhân viên không chỉ dựa trên kỹ năng thực tế của họ mà còn thể hiện ở động lực của họ đối với công việc”. Cho đến nay trên thế giới đã có khá nhiều các học thuyết khác nhau hướng đến việc nỗ lực giải thích bản chất của động lực làm việc. Denibutun (2012): “Đã khám phá sự khác nhau giữa các lý thuyết về động lực làm việc và xem xét động lực như một quá trình tâm lý cơ bản của con người.
Các lý thuyết về động lực giúp giải thích hành vi của một người nhất định tại một thời điểm nhất định”. Có thể chia các học thuyết này thành 2 nhóm: (1) Học thuyết nội dung tập trung nhận dạng những nhu cầu của cá nhân có ảnh hưởng đến hành vi của họ ở nơi làm việc, bao gồm: Lý thuyết tháp nhu cầu của Maslow; Mô hình tháp nhu cầu điều chỉnh của Alderfer (mô hình này là sự rút gọn, giản lược từ mô hình gốc của Maslow); Thuyết hai yếu tố của Herzberg (gồm nhóm yếu tố thúc đẩy và nhóm yếu tố duy trì); Thuyết thành tựu thúc đẩy của McClelland (gồm: nhu cầu thành tựu; nhu cầu quyền lực; nhu cầu liên minh); (2) Học thuyết quá trình tập trung nghiên cứu vào quá trình tư duy của con người. Quá trình tư duy này có ảnh hưởng đến quyết định thực hiện những hành động khác nhau của con người trong công việc, bao gồm các lý thuyết sau: Thuyết kỳ vọng của Vroom; Thuyết công bằng của Adam; Lý thuyết mục tiêu của Locke; Thuyết thẩm quyền của Heider và Kelley. Theo Nguyễn Vân Điềm, Nguyễn Ngọc Quân (2007): “Động lực làm việc là sự khát khao và tự nguyện của con người nhằm tăng cường sự nỗ lực để đạt được mục đích hay một kết quả cụ thể (Nói cách khác động lực bao gồm tất cả những lý do khiến con người hành động)”.
Khi người lao động tham gia vào quá trình sản xuất có nghĩa là họ muốn thỏa mãn nhu cầu, những đòi hỏi, mong muốn mà họ đã có hoặc có nhưng chưa đủ. Sự thỏa mãn đó có thể là vật chất hay tinh thần. Nói chung, động lực trong lao 15 động là nỗ lực, cố gắng từ chính bản thân cá nhân người lao động. Bản thân người lao động xuất phát ở vị trí khác nhau cùng với đặc điểm tâm lý, lứa tuổi, bản thân và gia đình… khác nhau sẽ có những mục tiêu và mong muốn khác nhau.
Nhà quản lý giỏi là người nắm bắt được nhu cầu của người lao động đang ở mức độ nào và làm sao tạo ra được động lực để người lao động thoả mãn nhu cầu của họ thông qua hoàn thành công việc trong tổ chức. Động lực thúc đẩy là xu hướng và sự cố gắng nhằm đạt được mong muốn hoặc mục tiêu nhất định còn sự thoả mãn là sự toại nguyện khi điều mong muốn được đáp ứng. Như vậy, động cơ thúc đẩy ngụ ý xu thế đi tới một kết quả, còn sự thoả mãn là một kết quả được thực hiện (Trần Kim Dung, Nguyễn Ngọc Lan Vy, 2011).2 Khái niệm động lực làm việc Trong môi trường làm việc, Baron (1991) định nghĩa động lực làm biến số thúc đẩy nhân viên (1) “muốn hành động” và (2) “chọn hành động” để thành công tại nơi làm việc. Hơn nữa, động lực được giải thích là năng lượng khuyến khích các hành vi liên quan đến công việc và ảnh hưởng đến phong cách làm việc, hướng đi, cường độ và thời gian của một người (Baron, 1991).
Cụm từ “động lực làm việc” cho phép các nhà nghiên cứu tiếp tục điều tra động lực trong lực lượng lao động. Nói cách khác, thêm thuật ngữ “nơi làm việc” trước động lực tách biệt động lực này để chỉ áp dụng cho các tình huống xảy ra liên quan đến công việc. Robbins (1998) cho rằng động lực làm việc là sự sẵn thể hiện mức độ cao của nỗ lực để hướng tới các mục tiêu của tổ chức, trong điều kiện một số nhu cầu cá nhân được thỏa mãn theo khả năng nỗ lực của họ. Sự cố gắng này cho thấy các mức độ động lực là khác nhau bởi giá trị công việc và nhu cầu của người lao động là không giống nhau (Yang, 2011).
Khi nhu cầu cá nhân của người nhân viên được thỏa mãn thì sẽ tạo ra một lực thúc đẩy anh ta thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Có hai loại động lực trong công việc, xuất phát từ động lực nội tại (bên trong) và động lực bên ngoài (bên ngoài), rất cần thiết cho sản xuất vì chúng khuyến khích nhân viên thực hiện các nhiệm vụ (Kluger & DeNisi, 1996); (Shockley-Zalaback, 2002); (Whang & Hancock, 1994). Động lực nội tại là một hình thức rất cá nhân của động lực và xoay quanh việc hoàn thành một nhiệm vụ 16 vì mục đích của nhiệm vụ (Peterson & Ruiz-Quintanilla, 2003; Whang & Hancock, 1994). Động lực bên ngoài đến từ các nguồn khác, bao gồm cả phản hồi từ người giám sát của một người; thiết lập mục tiêu của nhóm hoặc công ty và tiền thưởng (Kluger & Denisi, 1996; Whang & Hancock, 1994).
Người giám sát có thể tác động đến động lực này và nên nhận ra vai trò quan trọng mà họ có trong động cơ của cấp dưới của họ. Người giám sát cần phải biết cách thúc đẩy cấp dưới của họ tạo ra động lực bên ngoài bởi vì họ có rất ít ảnh hưởng đối với động lực nội tại. Động lực trong công việc và tâm lý tổ chức có liên quan tới những sức mạnh giàu năng lượng bắt nguồn từ bên trong cũng như bên ngoài của một cá nhân ảnh hưởng đến sự khởi đầu, định hướng, cường độ và thời gian hành động (Pinder, 1998). Tác động của môi trường nơi làm việc trên động lực cũng được nhận thức rõ và cung cấp lý do cho một loạt các phát minh tổ chức được thiết kế để nâng cao động lực của nhân viên.
Tuy nhiên, xu hướng gần đây trong toàn cầu hóa kinh tế, công nghệ làm việc mới, và tăng cường đa dạng lực lượng lao động đã dẫn đến sự công nhận lớn hơn rằng thiết kế công việc và điều kiện làm việc chỉ đại diện cho một trong nhiều lực lượng bên ngoài tác động lên cá nhân (Ilgen & Pulakos, 1999).