Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN: 1. LÝ THUYẾT LIÊN QUAN: 1. Những vấn đề cơ bản về di cư: 1. Khái niệm di cư: Theo E.
Baranov và Breev: “Di cư hiểu theo nghĩa rộng là bất kỳ một sự di chuyển nào của con người giữa các vùng lãnh thổ có gắn với sự thay đổi vị trí, dạng hoạt động và ngành có sử dụng lao động”. Xtapoverop (1957) định nghĩa “Di cư được hiểu là sự thay đổi vị trí con người về mặt địa lý do có sự di chuyển thường xuyên hoặc tạm thời của họ từ một cộng đồng kinh tế - xã hội này sang một cộng đồng kinh tế - xã hội khác, trở về cộng đồng hoặc có sự thay đổi vị trí không gian của toàn bộ cộng đồng nói chung”. Nhìn chung các nhà khoa học coi di cư là sự chuyển động trong không gian của con người với mục đích di chuyển nên khó phân biệt được tính đặc thù của di cư trong tổng thể di chuyển giữa các vùng lãnh thổ. Về cơ bản, nhiều nhà khoa học trong lĩnh vực chuyên ngành về di cư không nhất trí với định nghĩa di cư theo nghĩa rộng.
Họ cho rằng các định nghĩa đó có thể quy tụ sự xáo trộn của con người có liên quan đến “sự chuyển động cơ học của dân cư”. Đó là cách hiểu đơn giản, không tín đến khoảng cách, thời gian, mục đích di chuyển. Thực tế nếu sự di chuyển của một người di cư chỉ mang tính xã hội nghề nghiệp và sự thay đổi địa vị hoặc nơi làm việc của họ trong phạm vi lãnh thổ của cùng một cộng đồng, thì sự di chuyển ấy không phải lúc nào cũng trùng hợp với những di chuyển của dân cư. Theo nghĩa hẹp, di cư là quá trình di chuyển của con người gắn liền với sự thay đổi chỗ ở thường xuyên, thay đổi vị trí, môi trường từ nơi đi tới nơi đến trong một khoảng thời gian nhất định nào đó.
Tùy thuộc vào mức độ thời gian và tính liên tục mà di cư giữa các vùng có hình thức di cư trở lại và di cư không trở lại.Hình thức di cư trở lại gồm hai loại là di cư con lắc và di cư theo mùa. Hình thức di cư không trở lại là hình thức chuyển hẳn khỏi nơi cư trú thường xuyên. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Năm 1958, Liên hợp quốc định nghĩa di cư như sau: “Di cư là một hình thức di chuyển trong không gian của con người giữa một đơn vị địa lý hành chính này và một đơn vị hành chính khác nhằm thiết lập một nơi cư trú mới trong khoảng thời gian nhất định. Sự thay đổi chỗ ở thể hiện ở khái niệm nơi xuất cư và nơi nhập cư.
Về định nghĩa di cư, chúng ta cũng có một số khái niệm: thời khoảng di cư là khoảng thời gian từ lúc di cư đến thời điểm điều tra; dòng di cư là tập hợp tất cả các di chuyển có chung nơi đi và nơi đến và dòng di cư được xác định bởi hướng và cường độ; chênh lệch di cư là số chênh lệch giữa di chuyển đi và di chuyển đến tại một vùng xác định. Định nghĩa của Liên hợp quốc loại ra những người sống lang thang, dân du mục, di cư theo mùa và di cư con lắc (đi về trong ngày). Trên quan điểm thống kê, không phải tất cả hành động di cư, di cư theo mùa và di cư kiểu con lắc có thể xếp vào sự di chuyển của dân cư - tức di cư. Trong điều tra dân số ở các nước cũng như ở nước ta, người di cư được xác định là người thay đổi chỗ ở thường xuyên từ đơn vị hành chính này sang đơn vị hành chính khác trong khoảng thời gian xác định.
Hiện nay, ở nước ta các nhà quản lý và nghiên cứu cũng đã có sự thống nhất rằng những người di chuyển ra khỏi địa bàn xã với thời gian 6 tháng trở lên mới gọi là di cư. Đặc điểm về di cư: Di cư là một quá trình thay đổi nơi cư trú trong khoảng thời gian nào đó và nó do các yếu tố khác nhau tác động, việc tác động này thể hiện một số khía cạnh: + Sự chọn lọc về tuổi tác: Theo nhiều nghiên cứu thì việc di cư diễn ra ở những người trẻ bước vào độ tuổi lao động chiếm to lệ lớn. Thanh niên thích nghi và hòa nhập với cuộc sống mới, họ là lực lượng lao động mới, dễ dàng thay đổi hơn. Cũng chính vì tính chọn lọc trong tuổi tác mà những vùng nhập cư có cơ cấu tuổi trẻ hơn.
+ Sự chọn lọc theo giới tính , việc di cư nữ hoặc nam, nhiều hoặc ít hơn phụ thuộc vào không gian, thời gian khác nhau, phụ thuộc vào đối tượng nghiên cứu mà có thể có sự khác biệt. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 - Tình trạng hôn nhân: Trong những lý luận về di cư, người ta cũng thường đề cập đến tình trạng hôn nhân, thông thường to lệ những người chưa có giá đình hoặc đang có gia đình là những đối tượng có to lệ lớn trong dân số. Ở những nước đang phát triển, thường người trẻ chưa lập gia đình di cư nhiều hơn. Điều này cũng giống như các nước đang phát triển thời kỳ trước.Tuy nhiên, ngày nay ở các nước phát triển, những người có gia đình cũng có khả năng di cư như những người có gia đình.
- Nghề nghiệp, trình độ học vấn: Những người có trình độ học vấn hoặc có trình độ tay nghề thường dễ thay đổi công việc, do đó họ năng động hơn so với đối tượng khác. Những lao động lành nghề thường di cư nhiều hơn. Những người có chuyên môn có tỷ lệ cao hơn cả. Có một số nghiên cứu về mối quan hệ giữa trình độ học vấn và sự chọn lọc di cư.
Nghiên cứu này sẽ xem xát vấn đề trình độ học vấn với di cư việc làm có sự tác động như thế nào. Các chỉ tiêu về di cư. Khi nghiên cứu về vấn đề di cư người ta có thể có nhiều đại lượng để đo lường chúng, việc sữ dụng đại lượng nào cho nghiên cứu của mình tùy thuộc vào đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Chúng ta có thể phân tích một số đại lượng sau đây: - Di cư thuần tuý: Số lượng di cư thuần túy của dân số: NM = (I –O) = (P1 – P0) – (B – D) NM: di cư thuần tuý P1 và P0: tổng dân số ở thời điểm t1 và t0.
I và O: số lượng nhập cư và xuất cư giữa hai thời điểm; (I-O) là tăng cơ học. B và D: tổng số sinh và chết giữa hai thời điểm. (B-D) tăng tự nhiên. - Tỷ suất xuất cư: là số lượng người dân di chuyển ra khỏi một vùng nào đó trong một khoảng thời gian nhất định (thường tính là 1 năm) so với 1000 dân của vùng xuất cư trong năm tương ứng.
O OR = *1000 P LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 O: số người xuất cư khỏi địa bàn P: dân số trung bình của địa bàn đó. - Tỷ suất nhập cư: là số lượng người nhập cư tới một vùng nào đó trong khoảng thời gian nhất định (thường tính là 1 năm) so với 1000 dân số trung bình của vùng nhập cư trong thời gian tương ứng. I IR = *1000 P I: số người nhập cư vào địa bàn P: dân số trung bình của địa bàn đó - Tỷ suất di cư thuần thuần tuý: đo lường sự tác động của di cư đến dân số. Sự tương quan giữa xuất cư và nhập cư tại một địa bàn sẽ làm cho trị số của tỷ số này âm (nếu số người xuất cư nhiều hơn số người nhập cư) hoặc dương (khi số người nhập cư nhiều hơn số người xuất cư) I −O NMR = *1000 P - Tỷ suất tổng di cư: số lượng người di cư ở một địa phương (không phân biệt theo xuất hay nhập cư) cũng có ý nghĩa quan trọng để đánh giá tình hình di cư của địạ.
Trong trường hợp tỷ suất di cư thuần tuý NMR quá nhỏ (do số lượng xuất cư xấp xỉ số lượng nhập cư), người ta thường sử dụng chỉ tiêu tổng tỷ suất di chuyển để so sánh. Chỉ tiêu này phản ảnh tổng hợp cương độ di cư, di chuyển của người dân (bao gồm cả dòng di cư đến và dòng xuất cư đi). Chỉ tiêu này cũng phản ảnh khá tốt nhịp độ di cư: I +O TR = *1000 P LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Quan hệ tác động qua lại giữa di cư và môi trường kinh tế, xã hội.
Đời sống kinh tế xã hội luôn vận động và phát triển từng ngày. Di cư là một hiện tượng kinh tế - xã hội thực tiễn và phức tạp có nguyên nhân kinh tế xã hội sâu xa và nhiều mặt. Nó có thể tác động đến kinh tế, văn hóa, xã hội ở nơi đi và nơi đến, có thể tác động theo nhiều hướng với cả mặt tích cực và tiêu cực. Trong lịch sử phát triển của lực lượng sản xuất, di cư đã đóng vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện phân công lao động xã hội, nhằm tạo ra năng xuất lao động cao.
Vấn đế di cư cũng được nhiều nhà nghiên cứu trên Thế giới di sâu vào phân tích như Todaro, Everett Lee, Lipton,… Di cư không khải là mục đích tự thân mà là phương tiện để thực hiện các nhu cầu khác: thay đổi địa vị kinh tế - xã hội. Những nhà kinh tế của chủ nghĩa Mác-Lênin cũng đánh giá cao vai trò của di cư, của tính năng xã hội của dân cư, vì cũng chính trong quá trình di cư mà các kinh nghiệm sản xuất, chinh phục tự nhiên và các kinh nghiệm xã hội được phổ biến trong cộng đồng. Trong lịch sử của di cư trên thế giới cũng như ở nước ta, dòng di cư tự do phổ biến trong mọi giai đoạn lịch sử và có thể nói, đó là dòng di cư có vai trò quan trọng nhất bởi vì tính kế hoạch, sự kiểm soát di cư của nhà nước phong kiến, tư bản chủ nghĩa trước đây và của nhà nước xã hội chủ nghĩa cũng có tác động tới một bộ phận người di cư. Cũng chính di cư tự do mới thể hiện rõ nhất những đặc điểm của di cư như tính chọn lọc.
Trong thế giới hiện đại, đô thị có một vai trò đặc biệt trong sự phát triển xã hội của quốc gia, của các vùng lãnh thổ, là các cực phát triển của quốc gia, các vùng.