Tổng quan nghiên cứu

Tính đến hết tháng 12/2017, tổng tài sản của hệ thống các tổ chức tín dụng tại Việt Nam đã tăng trưởng 17,62% so với đầu năm, chính thức vượt mốc 10.429 nghìn tỷ đồng, tương đương gần gấp 2 lần quy mô GDP của cả nước. Mặc dù mạng lưới ngân hàng thương mại phát triển mạnh mẽ và đóng vai trò huyết mạch cung ứng vốn cho nền kinh tế, chất lượng tài sản của hệ thống lại bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, tỷ lệ nợ xấu sau khi chạm đỉnh 4,86% vào năm 2012 đã được kiểm soát về mức 2,34% vào cuối năm 2017. Tuy nhiên, theo đánh giá độc lập của Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, nợ xấu thực tế toàn hệ thống trong năm 2017 ước tính lên đến 9,5%, cao gấp gần 4 lần con số công bố chính thức. Sự bất cập này cho thấy nợ xấu vẫn là một "cục máu đông" đe dọa sự an toàn thanh khoản và kìm hãm đà tăng trưởng kinh tế bền vững.

Trước thực trạng cấp bách đó, luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Tiến Hồng, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Hồng Thắng tại Trường Đại học Kinh tế - Luật (Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh), thực hiện đề tài "Phân tích các nhân tố tác động đến nợ xấu của các ngân hàng thương mại Việt Nam". Nghiên cứu tập trung giải quyết câu hỏi trọng tâm về mức độ và chiều hướng tác động của cả hai nhóm nhân tố: vi mô thuộc đặc thù nội tại của ngân hàng và vĩ mô thuộc môi trường kinh tế đến tỷ lệ nợ xấu.

Phạm vi nghiên cứu bao quát dữ liệu tài chính của 22 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong suốt giai đoạn 12 năm từ 2006 đến 2017. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp bằng chứng định lượng vững chắc, giúp các nhà quản trị ngân hàng và cơ quan quản lý xác lập các chính sách kiểm soát rủi ro, hướng tới mục tiêu duy trì tỷ lệ nợ xấu dưới 2,0% và bảo đảm tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo chuẩn mực quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng nền tảng lý luận vững chắc dựa trên các lý thuyết và giả thuyết tài chính kinh điển nhằm giải thích bản chất phát sinh rủi ro tín dụng:

  • Lý thuyết Bất cân xứng thông tin (Asymmetric Information Theory của George Akerlof, 1970): Trong hoạt động cấp tín dụng, ngân hàng luôn nắm giữ ít thông tin hơn khách hàng vay về phương án kinh doanh và khả năng trả nợ. Tình trạng này dẫn đến hệ quả lựa chọn đối nghịch (adverse selection) trước khi ký kết hợp đồng và rủi ro đạo đức (moral hazard) sau khi giải ngân vốn, khiến nợ xấu gia tăng khi khách hàng sử dụng vốn sai mục đích hoặc ngân hàng buông lỏng giám sát.
  • Giả thuyết Quản trị kém (Bad Management Hypothesis của Berger & DeYoung, 1997): Các ngân hàng có hiệu quả hoạt động và kiểm soát chi phí yếu kém thường sở hữu năng lực thẩm định và giám sát rủi ro tín dụng lỏng lẻo, tạo ra lượng nợ xấu tiềm ẩn rất lớn trong tương lai.
  • Giả thuyết Rủi ro đạo đức (Keeton & Morris, 1987): Các ngân hàng có mức vốn hóa thấp thường có xu hướng chấp nhận khẩu vị rủi ro cao hơn để tìm kiếm lợi nhuận ngắn hạn, từ đó làm gia tăng tỷ lệ tổn thất trong danh mục cho vay.
  • Giả thuyết Chính sách tín dụng có tính chu kỳ (Rajan, 1994) và Giả thuyết Đa dạng hóa danh mục (Salas & Saurina, 2002): Giải thích mối quan hệ đa chiều giữa quy mô tài sản, tốc độ mở rộng tín dụng theo chu kỳ kinh doanh và chất lượng nợ vay.

Về mặt khái niệm, nợ xấu trong nghiên cứu được chuẩn hóa theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN, bao gồm các khoản nợ thuộc nhóm 3 (nợ dưới chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn). Biến phụ thuộc chính là tỷ lệ nợ xấu (NPL), được đo bằng phần trăm giữa tổng giá trị nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5 trên tổng dư nợ cho vay của ngân hàng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập minh bạch từ báo cáo tài chính kiểm toán thường niên của 22 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam, báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà nước và số liệu thống kê vĩ mô từ Tổng cục Thống kê (GSO) xuyên suốt giai đoạn 2006-2017.

Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 22 ngân hàng với 12 năm quan sát liên tục, tạo thành bộ dữ liệu bảng cân bằng (balanced panel data) với hơn 264 quan sát. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích loại trừ 4 ngân hàng thương mại nhà nước lớn (Agribank, BIDV, Vietcombank, Vietinbank) vì khối này nắm giữ tỷ lệ sở hữu nhà nước trên 50%, sở hữu những ưu thế ngầm định đặc thù về nguồn vốn, mạng lưới và chính sách hỗ trợ mà khối ngân hàng thương mại cổ phần không có được.

Về phương pháp phân tích, ngoài các mô hình tĩnh truyền thống như Mô hình Tác động cố định (FEM) và Mô hình Tác động ngẫu nhiên (REM), tác giả đã lựa chọn phương pháp Mô men tổng quát dạng sai phân (Difference Generalized Method of Moments - DGMM) của Arellano và Bond (1991). Việc lựa chọn DGMM mang tính đột phá và tối ưu vì phương pháp này giải quyết triệt để vấn đề nội sinh tiềm tàng giữa biến trễ nợ xấu với các biến đặc thù ngân hàng, khắc phục hiện tượng tự tương quan chuỗi và phương sai sai số thay đổi. Độ tin cậy của các biến công cụ và tính vững của mô hình được kiểm định nghiêm ngặt qua kiểm định Sargan và kiểm định tự tương quan Arellano-Bond (AR1, AR2).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả phân tích định lượng từ mô hình DGMM trên dữ liệu 22 ngân hàng thương mại cổ phần giai đoạn 2006-2017 đã mang lại 4 phát hiện quan trọng có ý nghĩa thực nghiệm sâu sắc:

  • Tính dồn tích và độ trễ của nợ xấu quá khứ: Nợ xấu kỳ trước (NPL trễ 1 năm) có tác động cùng chiều rất mạnh và có ý nghĩa thống kê ở mức 1% đến nợ xấu kỳ hiện tại. Điều này chứng minh nợ xấu tại Việt Nam có tính dai dẳng cao; nếu không xử lý dứt điểm, các khoản nợ xấu cũ sẽ tiếp tục đóng băng dòng tiền và khuếch đại quy mô rủi ro cho các năm tiếp theo.
  • Tác động từ mở rộng tín dụng quá nóng và mức độ tập trung vốn: Tăng trưởng tín dụng và tỷ lệ cho vay trên tổng vốn huy động (LTD) phản ánh khẩu vị rủi ro cao của ngân hàng. Trong thực tế, nhiều ngân hàng từng ghi nhận mức tăng trưởng tín dụng kỷ lục như NCB năm 2007 đạt 1.132,68%, hoặc tỷ lệ LTD vượt ngưỡng 200% như HDBank đạt 250,77% (2007) và SCB đạt 228,38% (2006). Sự gia tăng tín dụng ồ ạt trong ngắn hạn làm suy giảm chuẩn mực thẩm định, dẫn đến sự bùng nổ nợ xấu trong các giai đoạn sau.
  • Mối quan hệ thuận chiều giữa quy mô tài sản và nợ xấu: Trái với giả thuyết đa dạng hóa danh mục, tại Việt Nam quy mô tổng tài sản có tương quan đồng biến với nợ xấu. Điều này ủng hộ giả thuyết "quá lớn để phá sản" (Too Big To Fail), khi các ngân hàng có tài sản lớn trên 300.000 tỷ đồng (như SCB, Sacombank, MB năm 2017) có xu hướng mở rộng danh mục cho vay rủi ro cao. Điển hình như Sacombank (STB) ghi nhận tỷ lệ nợ xấu lên đến 6,91% vào năm 2016 và 4,67% vào năm 2017.
  • Tác động mạnh mẽ từ môi trường kinh tế vĩ mô: Tăng trưởng GDP có mối quan hệ nghịch biến rõ rệt với nợ xấu. Khi tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt đỉnh 7,13% vào năm 2007, nợ xấu ở mức thấp; ngược lại khi GDP sụt giảm còn 5,25% vào năm 2012, nợ xấu toàn hệ thống vọt lên 4,86% và tại một số đơn vị như SHB lên đến 8,82%. Đồng thời, biến động lạm phát (đạt đỉnh 22,97% năm 2008 và 18,58% năm 2010) cùng tình trạng thâm hụt ngân sách gia tăng đã đẩy chi phí vốn vay lên cao, làm suy yếu năng lực tài chính của doanh nghiệp và trực tiếp kích hoạt nợ xấu.

Thảo luận kết quả

Diễn biến nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam có thể được trực quan hóa rõ nét qua các đồ thị phân tích xu hướng và bảng tổng hợp tương quan trong luận văn. Cụ thể, đồ thị đối chiếu giữa số liệu nợ xấu do Ngân hàng Nhà nước công bố và số liệu do NFSC đánh giá lại cho thấy khoảng cách chênh lệch từ 2,34% lên tới 9,5% vào năm 2017. Khoảng cách này được minh giải qua 3 nguyên nhân cốt lõi:

  • Sự khác biệt về chuẩn mực hạch toán giữa VAS và IFRS, cho phép các tổ chức tín dụng phân loại một số khoản vay rủi ro sang mục chứng khoán đầu tư hoặc tài sản có khác nhằm trì hoãn trích lập dự phòng.
  • Thực trạng cho vay đảo nợ diễn ra phổ biến trước thời điểm Thông tư 39/2016/TT-NHNN có hiệu lực thi hành, giúp ngân hàng che giấu các khoản nợ kém chất lượng.
  • Áp lực làm đẹp báo cáo tài chính nhằm duy trì chỉ tiêu lợi nhuận ngắn hạn và chỉ số an toàn vốn danh nghĩa.

Kết quả nghiên cứu này tương đồng với các kết luận của Dimitrios và cộng sự (2016) trên thị trường khu vực đồng Euro, Louzis và cộng sự (2012) tại Hy Lạp, cũng như nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Vinh (2015) tại Việt Nam. Điểm đóng góp nổi bật của luận văn là việc làm sáng tỏ cơ chế tác động của yếu tố thâm hụt ngân sách và độ trễ của chính sách tín dụng nội tại trong điều kiện đặc thù của thị trường tài chính Việt Nam.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả ước lượng thực nghiệm, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao nhằm kiểm soát và xử lý nợ xấu triệt để:

  • Tăng cường trích lập dự phòng và xử lý dứt điểm nợ xấu tồn đọng: Các ngân hàng thương mại cổ phần cần chủ động sử dụng nguồn lợi nhuận giữ lại để trích lập dự phòng rủi ro tín dụng đầy đủ theo đúng Thông tư 02/2013/TT-NHNN, đẩy mạnh phát mại tài sản bảo đảm và phối hợp bán nợ xấu cho VAMC theo cơ chế thị trường, nhằm đưa tỷ lệ nợ xấu thực chất về dưới 2,0% trong lộ trình 2020-2025.
  • Chấm dứt hoàn toàn nghiệp vụ cho vay đảo nợ và tái cấu trúc tín dụng an toàn: Ban điều hành các ngân hàng phải thực hiện nghiêm ngặt Thông tư 39/2016/TT-NHNN, siết chặt quy trình thẩm định dòng tiền thực tế của dự án, kiểm soát tỷ lệ dư nợ cho vay trên vốn huy động (LTD) duy trì ổn định dưới mức trần 85% và áp dụng hệ thống cảnh báo sớm rủi ro tín dụng tự động trong vòng 12-24 tháng.
  • Mở rộng quy mô và nâng cao tính thanh khoản của thị trường mua bán nợ: Ngân hàng Nhà nước cùng VAMC cần hoàn thiện hành lang pháp lý để phát triển sàn giao dịch nợ xấu quốc gia, thu hút mạnh mẽ các quỹ đầu tư tư nhân và định chế tài chính quốc tế tham gia mua bán nợ theo giá trị thị trường, hướng tới giải phóng khối tài sản bảo đảm trị giá hàng trăm nghìn tỷ đồng trước năm 2025.
  • Phối hợp hài hòa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa vĩ mô: Ngân hàng Nhà nước cần duy trì hạn mức tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống ở mức hợp lý từ 14% đến 16%/năm, phối hợp cùng các bộ ngành kiểm soát lạm phát mục tiêu dưới 4,0% và kiềm chế thâm hụt ngân sách dưới 3,5% GDP để ổn định mặt bằng lãi suất cho vay, tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp phục hồi khả năng trả nợ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng chủ chốt trong ngành tài chính:

  • Hội đồng quản trị và Ban điều hành các ngân hàng thương mại: Ứng dụng kết quả phân tích định lượng để tái thiết lập khẩu vị rủi ro, xây dựng mô hình dự báo nợ xấu dựa trên biến trễ tài chính và hoàn thiện chiến lược phân bổ danh mục tín dụng an toàn.
  • Cơ quan quản lý nhà nước (Ngân hàng Nhà nước, NFSC, VAMC): Sử dụng các bằng chứng thực nghiệm về tác động vĩ mô để hoạch định chính sách điều hành cung tiền, hoàn thiện quy định về trích lập dự phòng rủi ro tiệm cận chuẩn mực quốc tế IFRS và nâng cao hiệu quả giám sát an toàn vi mô.
  • Chuyên viên phân tích tài chính và giới đầu tư: Khai thác phương pháp bóc tách chất lượng tài sản thực tế của 22 ngân hàng cổ phần, hỗ trợ định giá cổ phiếu ngân hàng chính xác và dự báo rủi ro thanh khoản của các định chế tài chính niêm yết.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng: Tham khảo phương pháp luận khoa học, cách thu thập dữ liệu bảng 12 năm và quy trình thực hiện kỹ thuật hồi quy DGMM trên phần mềm kinh tế lượng chuyên dụng.

Câu hỏi thường gặp

Nợ xấu trong hệ thống ngân hàng Việt Nam được phân loại như thế nào?

Theo quy định tại Thông tư 02/2013/TT-NHNN, nợ xấu bao gồm 3 nhóm: nhóm 3 (nợ dưới chuẩn, quá hạn từ 91 đến 180 ngày), nhóm 4 (nợ nghi ngờ, quá hạn từ 181 đến 360 ngày) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn, quá hạn trên 360 ngày). Tỷ lệ nợ xấu chuẩn được tính bằng tổng dư nợ nhóm 3, 4, 5 chia cho tổng dư nợ cho vay của ngân hàng.

Vì sao có sự chênh lệch lớn giữa nợ xấu công bố của Ngân hàng Nhà nước và đánh giá của NFSC?

Sự chênh lệch phát sinh do các ngân hàng hạch toán theo chuẩn kế toán VAS, phân loại một số khoản nợ tiềm ẩn rủi ro vào các khoản mục chứng khoán đầu tư hoặc ủy thác đầu tư. Năm 2017, con số nợ xấu báo cáo là 2,34% nhưng NFSC đánh giá lại lên tới 9,5% do tính thêm các khoản nợ xấu đã bán cho VAMC chưa xử lý và nợ cơ cấu lại.

Ưu điểm vượt trội của phương pháp hồi quy DGMM trong nghiên cứu nợ xấu là gì?

Phương pháp DGMM của Arellano & Bond (1991) giải quyết triệt để hiện tượng nội sinh phát sinh từ mối quan hệ hai chiều giữa biến trễ nợ xấu và các biến đặc thù ngân hàng. Trên mẫu 264 quan sát của 22 ngân hàng, DGMM loại bỏ sai số không quan sát được và cho kết quả ước lượng vững hơn so với mô hình tĩnh FEM và REM.

Tại sao nghiên cứu lại loại trừ 4 ngân hàng thương mại nhà nước khỏi mẫu phân tích?

Bốn ngân hàng nhà nước (Agribank, BIDV, Vietcombank, Vietinbank) sở hữu tỷ lệ vốn nhà nước trên 50%, có quy mô tài sản vượt trội và nhận được các ưu thế ngầm định về bảo lãnh tín dụng cũng như nguồn tiền gửi từ kho bạc. Việc tách riêng giúp mô hình phản ánh trung thực hành vi rủi ro của 22 ngân hàng thương mại cổ phần.

Tăng trưởng tín dụng quá nóng ảnh hưởng thế nào đến chất lượng nợ của ngân hàng?

Khi tăng trưởng tín dụng bùng nổ, như trường hợp NCB tăng 1.132,68% năm 2007, các ngân hàng thường hạ thấp tiêu chuẩn xét duyệt và nới lỏng thẩm định dòng tiền. Sau độ trễ từ 1 đến 2 năm, khi nền kinh tế biến động, các khoản vay chất lượng thấp này nhanh chóng chuyển hóa thành nợ xấu nhóm 3, 4 và 5.

Kết luận

  • Luận văn phân tích toàn diện thực trạng nợ xấu của 22 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam giai đoạn 2006-2017, chỉ rõ giai đoạn đỉnh điểm nợ xấu năm 2012 với tỷ lệ 4,86% cùng sự phân hóa sâu sắc giữa các tổ chức tín dụng.
  • Chứng minh vững chắc tính dồn tích của nợ xấu quá khứ bằng phương pháp DGMM, khẳng định nợ xấu kỳ trước là nhân tố giải thích quan trọng nhất cho rủi ro nợ xấu kỳ hiện tại.
  • Xác định quy mô ngân hàng, mức độ tập trung vốn tín dụng, lạm phát và thâm hụt ngân sách có tương quan thuận với nợ xấu, trong khi tăng trưởng kinh tế GDP tạo tác động nghịch biến giúp kiềm chế rủi ro tín dụng.
  • Đóng góp hệ thống giải pháp 4 trụ cột thực tiễn, kết hợp giữa việc trích lập dự phòng thực chất, chấm dứt cho vay đảo nợ, vận hành sàn giao dịch nợ VAMC và phối hợp chính sách tài khóa - tiền tệ.
  • Đặt ra lộ trình hành động giai đoạn 2020-2025 nhằm hoàn thiện khung quản trị rủi ro tín dụng theo chuẩn mực quốc tế Basel và IFRS, bảo đảm hệ thống ngân hàng thương mại vận hành an toàn và bền vững.

Bạn đọc, các nhà nghiên cứu và chuyên viên tài chính quan tâm đến mô hình phân tích định lượng dữ liệu bảng động DGMM và giải pháp xử lý nợ xấu chuyên sâu có thể tiếp tục tra cứu, trích dẫn luận văn này để phục vụ công tác quản trị và nghiên cứu học thuật.