CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI VÀ VIỆT NAM VỀ KTTN 1.1 Giới thiệu Trong chương này, tác giả sẽ tổng hợp và trình bày những nghiên cứu có liên quan đã được công bố trên thế giới và ở Việt Nam. Mục tiêu của tác giả là xác định các yếu tố của KTTN, cũng như đưa ra được phương pháp nghiên cứu nhằm đo lường mức độ vận dụng các yếu tố của KTTN trong các DNSX ở Thành phố Hồ Chí Minh.2 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Tác giả Ghala (2005) đánh giá việc áp dụng KTTN trong các công ty công nghiệp ở Lybia. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng trong các công ty này thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa các trung tâm trách nhiệm (TTTN) và đó là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những hạn chế của vai trò của hệ thống KTTN. Điều này hàm ý rằng, sự phù hợp trong thiết kế cơ cấu tổ chức và việc phối hợp đồng bộ giữa các TTTN có tác động đến việc áp dụng hệ thống KTTN trong DN.
Cùng với mục tiêu là điều tra mức độ áp dụng KTTN và tác động của nó đối với hiệu quả hoạt động của các công ty thuộc các tập đoàn công nghiệp Jordan, tác giả Gharayba và đồng nghiệp (2008) chỉ ra bằng chứng cho thấy tồn tại các cấu trúc tổ chức, phân cấp và trao quyền, kết hợp với khen thưởng và trừng phạt tại các đơn vị này nhất quán với lý thuyết KTTN. Điều này hàm ý rằng, các DN thuộc các tập đoàn công nghiệp Jordan đã áp dụng khá triệt để KTTN trong hoạt động quản trị của mình. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra tương quan giữa chính sách khen thưởng và tỷ lệ sinh lời của các DN. Tuy nhiên, nghiên cứu chưa chỉ ra được số liệu sinh lời có phản ánh đúng thực trạng kết quả kinh doanh và tình hình tài chính của các DN này trên thực tế hay không vì một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng lương, thưởng và chế độ đãi ngộ cũng là yếu tố tác động đến hành vi điều chỉnh thu nhập của DN.
Điều này thúc đẩy DN điều chỉnh lợi nhuận trên báo cáo tài chính. Nhóm tác giả Judeh, Sheikh, & Sbugh (2009) đã tiến hành nghiên cứu để xác định mức 5 độ áp dụng KTTN trong các khách sạn xếp hạng 4 và 5 sao ở Amman, Jordan. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng có sự hiện diện của KTTN trong hoạt động quản trị khách sạn như phân chia tổ chức thành các TTTN, ngân sách được lập theo biểu đồ hoạt động, có hệ thống báo cáo tích hợp để kiểm soát và đánh giá kết quả hoạt động, hệ thống khuyến khích được ban hành và thực thi hữu hiệu. Tuy nhiên, sự phối hợp giữa các TTTN chưa thực sự hiệu quả trên thực tế.
Fowzia (2011) xem xét việc thực hiện KTTN trong các loại hình tổ chức dịch vụ khác nhau và mức độ hài lòng đối với hệ thống KTTN mà các tổ chức này đang áp dụng. Dữ liệu phân tích được thu thập từ 88 tổ chức dịch vụ ở Bangladesh. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, sự hài lòng đối với hệ thống KTTN bị ảnh hưởng từ việc phân công trách nhiệm, phương pháp đo lường hiệu quả hoạt động và hệ thống khen thưởng. Điều này hàm ý rằng có sự liên quan giữa các yếu tố phân quyền quản lý và hệ thống khen thưởng đến mức độ hài lòng về hệ thống KTTN trong các đơn vị này.
Gharayba và cộng sự (2011) đã xem xét mức độ thực hiện các yếu tố liên quan đến KTTN trong các công ty cổ phần thuộc lĩnh vực công nghiệp Jordan, cũng như ảnh hưởng của việc triển khai từng yếu tố này đối với lợi nhuận và hiệu quả hoạt động của công ty. Nghiên cứu đã kết luận rằng các công ty cổ phần công nghiệp Jordan có áp dụng một phần KTTN trong hoạt động quản trị của mình như: PCTC thành các TTTN; PQQL; PBCPVTN; LDT; DGDTVTT; LBC để phân tích và HTKT. Đồng thời, tác giả đã khẳng định có một mối quan hệ đáng kể giữa việc thực hiện KTTN với lợi nhuận và hiệu quả hoạt động của công ty. Kết quả này cũng khá tương đồng với nghiên cứu của Mohammad Ebrahim Nawaiseh và cộng sự (2014) cũng tiến hành điều tra mức độ áp dụng KTTN của các công ty công nghiệp Jordan.
Tỷ lệ áp dụng KTTN được khảo sát là 69,4%. Từ đó, tác giả khuyến nghị các công ty phải quan tâm nhiều hơn đến kế toán quản lý, đặc biệt đối với KTTN bằng cách tuyển dụng các chuyên gia trong các bộ phận kế toán; tăng cường việc áp dụng hệ thống kiểm soát ngân sách và kế toán chi phí, nâng cao vị thế cho kế toán quản trị thông qua các khía cạnh tài chính và phi tài chính; tổ chức các hội thảo và khóa đào tạo về KTTN……… 6 Nghiên cứu của Hanini (2013) khảo sát 16 ngân hàng ở Jordan nhằm xem xét việc thực hiện KTTN trong các ngân hàng này. Nghiên cứu được thực hiện thông qua việc đo lường sự hiện diện của 07 yếu tố liên quan đến KTTN, đó là: PCTC thành các TTTN; PQQL; PBCPVTN; LDT; DGDTVTT; LBC để phân tích và HTKT. Tác giả đã đưa ra kết luận rằng có sự hiện diện KTTN trong các ngân hàng ở Jordan như phân chia cơ cấu tổ chức thành các TTTN; thực hiện việc phân quyền cho nhà quản lý các trung tâm này với quyền hạn rõ ràng; thực hiện việc phân bổ chi phí và các khoản thu cho các TTTN theo khả năng và hiệu lực của trung tâm; có sự liên kết giữa ngân sách với các TTTN; sử dụng ngân sách để kiểm soát và đánh giá kết quả hoạt động các TTTN; có sự so sánh kết quả thực hiện với kế hoạch của từng trung tâm để đo lường thành quả từng trung tâm; có các báo cáo phân tích những khác biệt giữa kết quả thực hiện và kế hoạch; tồn tại của hệ thống khuyến khích tương thích với thành quả của từng TTTN trong các ngân hàng được khảo sát.
Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các ngân hàng này không áp dụng nhất quán một số nội dung KTTN như không phải TTTN nào cũng thực hiện duy nhất một loại hoạt động chủ yếu; không có sự tham gia lập ngân sách của từng nhân viên theo từng trung tâm; các báo cáo thiếu quan tâm đến kết quả hoạt động của TNTN về các khía cạnh phi tài chính và các nhân viên không có sự hài lòng về hệ thống khen thưởng. Từ đó, tác giả đã đưa ra một số khuyến nghị như: (i) các ngân hàng cần có các chính sách thu hút sự tham gia của tất cả các nhân viên làm việc tại các TTTN trong việc thiết lập các mục tiêu và chuẩn bị ngân sách ước tính cho các trung tâm; (ii) cần có sự tương trợ, phối hợp từ phía Ngân hàng Trung ương, Hiệp hội các ngân hàng và các cơ quan quản lý trong việc xây dựng những hướng dẫn cụ thể để áp dụng KTTN cho các ngân hàng Jordan bao gồm các mục tiêu, tính năng và lợi thế của việc sử dụng KTTN… Ali Amiri và cộng sự (2013, tr 46) đã thu thập, tổng hợp và xử lý dữ liệu từ các nhà quản lý cấp cao nhất, quản lý cấp trung và giám sát viên trong các công ty khu vực tư nhân ở Kerala, Ấn Độ. Qua đó, nhóm tác giả đã kết luận rằng việc vận dụng thành công hệ thống KTTN ảnh hưởng bởi hai yếu tố quan trọng là cơ cấu tổ chức và quyền hạn của người quản lý. Cơ cấu tổ chức ảnh hưởng bởi sự rõ ràng trong phân 7 chia công việc trong từng trung tâm; công việc và quy trình làm việc được mô tả rõ ràng; có người quản lý chuyên trách với nhiệm vụ và hoạt động riêng biệt tương ứng với các mục tiêu cụ thể ở mỗi trung tâm.
Quyền hạn của nhà quản lý cũng ảnh hưởng bởi bảy yếu tố bao gồm: có thẩm quyền phù hợp; đủ quyền hạn tương ứng với chuyên môn và trách nhiệm của cá nhân; có đủ thời gian để thực hiện công việc; trách nhiệm giải trình của nhân viên và hệ thống phân cấp tốt hơn trong tổ chức.3 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam Trần Trung Tuấn (2015) khảo sát mức độ áp dụng KTTN trong các DNSX xi măng Việt Nam. Tác giả đã kế thừa và phát triển từ thang đo gồm 43 biến quan sát của Hanini (2013). Thang đo này giải thích cho 07 yếu tố cấu thành nên KTTN đó là: phân quyền quản lý, phân bổ chi phí và thu nhập, lập dự toán, đánh giá giữa dự toán và thực tế, lập báo cáo, phân chia tổ chức thành các TNTN và hệ thống khen thưởng. Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ mức độ áp dụng KTTN tại các DNSX xi măng Việt Nam xấp xỉ ở mức độ vừa phải.
Theo đó, tác giả khuyến nghị các DNSX xi măng Việt Nam cần thực hiện các biện pháp đã được đề xuất, nhằm nâng cao việc áp dụng các khía cạnh của KTTN và đáp ứng yêu cầu quản trị hoạt động ngày càng cao. Kế thừa nghiên cứu của Trần Trung Tuấn (2015), Lê Phước Hương (2018) tiến hành nghiên cứu nhằm mục tiêu đo lường mức độ áp dụng KTTN tại các DN ở Đồng bằng sông Cửu Long. Tác giả đã xây dựng mô hình đo lường gồm 08 thành phần với 49 tiêu chí, phát triển từ thang đo của Hanini (2013) và Trần Trung Tuấn (2015). Bao gồm việc đo lường mức độ phân chia cơ cấu tổ chức thành các TTTN, hệ thống khen thưởng, nhận thức của nhà quản lý, lập dự toán, phân bổ chi phí - thu nhập, phân quyền quản lý, lập báo cáo và đánh giá dự toán với thực tế.
Đồng thời bổ sung thêm nhân tố là nhận thức của nhà quản trị, kế thừa từ Belkaoui (1981). Kết quả nghiên cứu cũng nhất quán với phát hiện của Trần Trung Tuấn (2015), đó là mức độ áp dụng KTTN tại các DN ở Đồng bằng sông Cửu Long ở mức vừa phải. Nghiên cứu của Trần Văn Tùng và Lý Phát Cường (2018) nhằm đánh giá về việc xây dựng và vận dụng mô hình KTTN và xác định các yếu tố liên quan đến công tác tổ 8 chức hệ thống KTTN tại các công ty dệt may niêm yết trên thị trường Chứng khoán Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy cơ cấu tổ chức, nhận thức người làm kế toán, phân quyền nhà quản lý, nhận thức nhà quản lý có tương quan thuận và biến “trở ngại khi thực hiện KTTN” có tương quan nghịch đối với công tác tổ chức hệ thống KTTN.