Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG Ở CẤP HUYỆN 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng 1. Các khái niệm * Khái niệm chính sách, chính sách công Chính sách là ý chí của một giai cấp biểu hiện ra bằng đường lối, chủ trương, biện pháp của một chính đảng, trên một lĩnh vực hoạt động trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Chính sách là một bộ phận của đường lối, đồng thời là một trong những yếu tố bảo đảm thực hiện thắng lợi đường lối.
Trong xã hội có giai cấp thì giai cấp cầm quyền bằng quyền lực của mình có thể định ra các chính sách buộc các giai cấp khác phải tuân theo, các chính sách được biểu hiện bằng các Nghị quyết, chủ trương, quan điểm của Đảng, bằng Hiến pháp, pháp luật, pháp lệnh, nghị định, thông tư …của Nhà nước. Trong mỗi giai đoạn xã hội nhất định thì có những chính sách khác nhau. Chính sách phù hợp sẽ thúc đẩy xã hội phát triển và ngược lại. James Anderson, một học giả người Mỹ, đã cho rằng: “Chính sách là một quá trình hành động có mục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm”.
Theo Từ điển Tiếng Việt đã chỉ rõ “Chính sách là văn bản sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt mục đích nhất định, được đề ra dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế” [68]. Như vậy, chính sách là một bộ phận của đường lối, quan điểm thể hiện ý chí của một giai cấp, được cụ thể hóa bằng chủ trương, biện pháp quan tâm, chăm lo về vật chất, tinh thần của Nhà nước trong một giai đoạn lịch sử nhất định tạo động lực to lớn trong toàn xã hội bảo đảm thực hiện thắng lợi đường lối, quan điểm của giai cấp đó. Chính sách khác với chính trị, khác với quyền lực chính trị, khác với chế độ chính trị do đó không được đồng nhất vấn đề này. 10 * Khái niệm người có công với cách mạng Mặc dù thuật ngữ “người có công”, đã được sử dụng rộng rãi trong các sách, báo, nhưng cho tới nay chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào nêu cụ thể về khái niệm người có công.
Tuy nhiên, dựa vào sự quy định của Nhà nước về tiêu chuẩn dành cho đối tượng là người có công với cách mạng, có thể đưa ra khái niệm người có công với cách mạng, theo hai nghĩa sau: Theo nghĩa rộng: “Người có công với cách mạng là những người không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, tuổi tác, nam nữ, đã tự nguyện cống hiến tài năng, sức lực, trí tuệ, có người hy sinh cuộc đời mình để phục vụ cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc trong dựng nước, giữ nước và kiến thiết đất nước. Họ là người có các cống hiến xuất sắc hoặc các thành tích đóng góp phục vụ vì lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc được nhà nước công nhận theo luật định” [66, tr. Ở nghĩa này, có thể xác định cụ thể những tiêu chí cơ bản của người có công, đó phải là những người có đóng góp và có cống hiến xuất sắc vì lợi ích của dân tộc. Đó là những người đã không tiếc thân mình, sẵn sàng đứng lên bảo vệ Tổ quốc, dùng máu thịt và nước mắt của chính mình để gìn giữ nền hòa bình dân tộc; cũng như những đóng góp hi sinh to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Xuất phát từ lịch sử hào hùng của dân tộc, lich sử đấu tranh dựng nước và giữ nước; những người có công là những người đã hy sinh xương máu của mình, hi sinh thân mình vì nền độc lập tự do của Tổ quốc, vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Những đóng góp, hi sinh thân mình của họ được Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận và tôn vinh, trân trọng, được xã hội quan tâm sâu sắc, không phân biệt vùng, miền, tôn giáo, giới tính, lứa tuổi, địa vị trong xã hội…Những hi sinh mất mát, những đóng góp to lớn đó không thể có gì bù đắp nổi. Theo nghĩa hẹp, có thể hiểu: “Người có công với cách mạng là những người không có sự phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, tuổi tác, nam nữ, có các cống hiến xuất sắc, các đóng góp ở thời kỳ trước cách mạng tháng 8/1945, ở cuộc kháng chiến để giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và được các tổ chức, cơ 11 quan có thẩm quyền công nhận theo luật định” [66, tr. Ở khái niệm này, người có công với cách mạng bao gồm những người đã tham gia hoặc giúp đỡ cách mạng, họ đã hy sinh một phần thân thể hay cả cuộc đời mình; hoặc họ có các thành tích đóng góp cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam.
Trong Dự thảo lần thứ hai đối với Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng, được sửa đổi vào năm 2019, đã xác định: “Người có công với cách mạng là người hy sinh, bị thương hoặc có đóng góp công lao, thành tích ở các thời kỳ cách mạng từ năm 1925 tới 31/12/1991 hoặc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; họ xứng đáng được Đảng, Nhà nước ta và nhân dân tôn vinh và được cơ quan có thẩm quyền công nhận theo luật định”. Như vậy, người có công với cách mạng là những người đã có thành tích trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam; trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa được Đảng và Nhà nước, các cơ quan có thẩm quyền tôn vinh và công nhận theo quy định của pháp luật. Từ khái niệm trên, rút ra các đặc điểm về người có công đối với cách mạng như sau: Một là, người có công đối với cách mạng bao gồm những người trực tiếp tham gia cách mạng hoặc người giúp đỡ cách mạng, họ đã hy sinh một phần xương máu, thân thể hoặc cả cuộc đời mình hay họ đã có thành tích đóng góp cho sự nghiệp cách mạng. Hai là, người có công đối với cách mạng là những người có những cống hiến xuất sắc hoặc có thành tích đóng góp vì lợi ích quốc gia dân tộc, những cống hiến, đóng góp của họ trong công cuộc kiến thiết đất nước, hay trong sự nghiệp kháng chiến chống giặc ngoại xâm và bảo vệ Tổ quốc, dân tộc.
Ba là, đối tượng người có công với cách mạng ở phạm vi hẹp, là những người có công ở thời kỳ cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc. Chính sách người có công với cách mạng theo Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng, 12 số 02/2020/UBTVQH14, ngày 09/12/2020 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xác định các đối tượng người có công gồm có: Người tham gia hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945: là người được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận đã tham gia hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945. Người hoạt động cách mạng từ ngày 01/01/1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945. Liệt sĩ: là người tham gia và hy sinh vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc; làm nghĩa vụ quốc tế hoặc vì lợi ích của Nhà nước, của nhân dân.
Chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu; Trực tiếp tham gia đấu tranh chính trị, đấu tranh binh vận có tổ chức với địch; Tham gia hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến, bị địch bắt, tra tấn vẫn không chịu khuất phục, kiên quyết đấu tranh hoặc thực hiện chủ trương vượt tù, vượt ngục mà hy sinh; Làm nghĩa vụ quốc tế; Đấu tranh chống tội phạm; Dũng cảm tham gia thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng, an ninh; dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và của nhân dân; Do ốm đau, tai nạn khi đang tham gia làm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; Khi đang trực tiếp tham gia làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ do cơ quan có thẩm quyền giao; Trực tiếp tham gia làm nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu hoặc diễn tập phục vụ quốc phòng, an ninh có tính chất nguy hiểm; Thương binh hoặc là đối tượng được thụ hưởng chính sách như thương binh theo quy định ở khoản 1 và khoản 2 tại Điều 19 của Pháp lệnh 04/2012/UBTVQH13 chết vì vết thương tái phát. Người mất tin, mất tích trong các trường hợp quy định của Pháp lệnh 13 04/2012/UBTVQH13. Bà mẹ Việt Nam anh hùng: là người được tặng hoặc truy tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” theo quy định tại Pháp lệnh Quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”, khi thuộc một trong những trường hợp cụ thể dưới đây: Có 2 con trở lên là liệt sĩ; Chỉ có 2 con mà 1 con là liệt sĩ và có 1 con là thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; Chỉ có 1 con mà người con đó là liệt sĩ; Có 1 con là liệt sĩ và có chồng hoặc bản thân là liệt sĩ; Có 1 con là liệt sĩ và bản thân là thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên. Cụ thể: người con là liệt sỹ là người đã được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng “Tổ quốc ghi công” (gồm con đẻ và con nuôi theo pháp luật); Người chồng là liệt sỹ là người đã được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng “Tổ quốc ghi công” mà bà mẹ là vợ của người đó; Thương binh quy định trên là người đã được cấp có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận thương binh, bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên, bao gồm cả người còn sống và người đã từ trần; Trường hợp bà mẹ có chồng, con tham gia hàng ngũ địch nhưng bà mẹ chấp hành đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước thì vẫn được xem xét tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước ‘‘Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.