Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA PHI VẬT THỂ (1998 - 2005) 1. Những yếu tố tác động và chủ trương của Đảng về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể (1998 - 2005) 1. Những yếu tố tác động đến quá trình bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể (1998 - 2005) * Văn hóa phi vật thể và vai trò của VHPVT Giá trị VHPVT là các giá trị tư tưởng, niềm tin, cảm xúc, các chuẩn mực ứng xử của con người trong đời sống xã hội, trong môi trường tự nhiên, nơi cộng đồng người sinh sống. Các biểu hiện của giá trị VHPVT chỉ xuất hiện khi con người, cộng đồng tìm cách biểu thị tư tưởng, niềm tin, cảm xúc, thái độ, tri thức của mình trong ứng xử với tự nhiên và xã hội, thông qua các vật thể, ngôn từ, âm thanh, màu sắc, hình khối, hành động, chữ viết… Bảo tồn và phát huy giá trị VHPVT là hoạt động có mục đích của cá nhân và cộng đồng nhằm lưu giữ, kế thừa, sàng lọc, duy trì và làm phong phú thêm giá trị vốn có của nó vào thực tiễn xã hội để trở thành tiềm năng, nội lực, góp phần thúc đẩy sự phát triển KT - XH, mang lại cả lợi ích vật chất và tinh thần cho cá nhân và cộng đồng dân tộc.
Chủ thể bảo tồn và phát huy giá trị VHPVT là cá nhân và cộng đồng dân tộc. Nội dung bảo tồn và phát huy giá trị VHPVT gồm: Bảo tồn và phát huy giá trị yêu nước; bảo tồn và phát huy giá trị đoàn kết; bảo tồn và phát huy giá trị lạc quan. Phương pháp bảo tồn và phát huy giá trị VHPVT là: Tăng cường công tác tuyên truyền giá trị VHPVT; hoàn thiện thể chế chính sách pháp luật và quản lý Nhà nước về VHPVT; tổ chức truyền dạy và thực hành di sản nghệ thuật; mở trại sáng tác để có nhiều tác phẩm mới có nội dung phù hợp, phục vụ các nhiệm vụ chính trị và đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân; tổ chức tôn vinh, khen thưởng các nghệ nhân, cộng đồng có nhiều đóng 12 góp trong việc giữ gìn, thực hành, truyền dạy, bảo vệ và phát huy giá trị VHPVT; gắn trách nhiệm của các cấp chính quyền, đoàn thể và người dân, thực hiện xã hội hóa công tác bảo tồn và phát huy giá trị VHPVT. Văn hóa phi vật thể là một động lực của đa dạng văn hóa, là nguồn lực của dân tộc, góp phần nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, phát triển KT - XH, quốc phòng, an ninh và đối ngoại.
* Toàn cầu hóa văn hóa, sự phát triển của truyền thông và giao lưu quốc tế về văn hóa, đã tác động đến sự phát triển VHPVT của dân tộc. Quá trình toàn cầu hóa văn hóa, truyền thông toàn cầu đang hướng đến sự quy chuẩn và làm gia tăng về phạm vi ảnh hưởng, nguồn tin, công chúng, phương tiện kỹ thuật, cách thức tiếp nhận thông tin, các loại hình hoạt động mới như một hiện tượng, quá trình văn hóa đặc thù. Về mặt tích cực: Công ước của UNESCO đã đóng vai trò quan trọng trong quá trình bảo tồn và phát huy giá trị VHPVT trên khắp các châu lục bởi các điều khoản chung mà các nước thành viên đã bỏ phiếu thông qua [Phụ lục 4]. Truyền thông góp phần nâng cao trình độ hiểu biết của cá nhân và cộng đồng trong hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị VHPVT, hình thành lối sống tích cực, định hình những giá trị chuẩn mực; giáo dục lối sống lành mạnh, trách nhiệm của các thành viên trong xã hội.
Đặc biệt, truyền thông toàn cầu đang góp phần giáo dục, bảo vệ, quảng bá những giá trị VHPVT của dân tộc đến bạn bè quốc tế; thúc đẩy tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Sự phát triển của văn hóa truyền thông không chỉ bao hàm sự phát triển công nghệ, mà còn là sự hội tụ của các giá trị về KT - XH và văn hóa. Về mặt tiêu cực: Sự phát triển không đồng đều của truyền thông đã dẫn đến hiện tượng một số quốc gia lợi dụng truyền thông để can thiệp vào các vấn đề chính trị, KT - XH và văn hóa… vì quyền lợi của mình. Mặt khác, truyền thông cũng đưa đến những thông tin bất lợi, phản giá trị, tiêu cực tác động đến sự phát triển của văn hóa các dân tộc nói chung và VHPVT nói riêng.
13 Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế là một xu thế tất yếu, khách quan, vừa là quá trình hợp tác để phát triển, vừa là quá trình đấu tranh bảo vệ lợi ích quốc gia. Các phương tiện truyền thông, mạng viễn thông, Internet tạo thuận lợi cho giao lưu, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, đồng thời cũng diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt để bảo tồn và phát huy giá trị VHPVT của dân tộc mình. * Sự chuyển đổi từ xã hội truyền thống sang xã hội hiện đại đã tác động đến biến đổi giá trị VHPVT của dân tộc. Trong xã hội truyền thống, những giá trị VHPVT được hình thành từ quá trình lao động nông nghiệp - nông dân và nông thôn.
Hiện nay, quá trình CNH, HĐH và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang tác động mạnh mẽ đến công tác bảo tồn và phát huy giá trị VHPVT của dân tộc. Không gian văn hóa có sự biến đổi to lớn cả ở nông thôn, thành thị, du lịch, thương mại và không gian nghệ thuật. Chủ thể sáng tạo VHPVT là lực lượng đông đảo, đa dạng và phong phú như: công nhân, nông dân, trí thức, đặc biệt là tầng lớp doanh nhân. Lực lượng này đang đóng vai trò chủ đạo trong phát triển kinh tế của thời kỳ chuyển đổi văn hóa từ truyền thống đến hiện đại.
Cùng với đó, sự biến đổi giá trị VHPVT đã và đang diễn ra theo các hướng: Một số giá trị truyền thống tiếp tục được bảo tồn (có thể có sự biến đổi nhất định về nội dung); một số giá trị truyền thống đang bị suy thoái và có xu hướng mất đi; một số phi giá trị có nguồn gốc nội sinh hoặc ngoại nhập nảy sinh và đang tồn tại; một số giá trị mới đang hình thành và phát triển. Đặc biệt, trong thời kỳ quá độ lên CNXH còn xuất hiện tình trạng một số người chưa thực sự tin tưởng vào cuộc sống tốt đẹp, mục tiêu phát triển của đất nước; xuất hiện các tệ nạn xã hội núp bóng dưới các lễ hội truyền thống của dân tộc… tác động tiêu cực đén sự phát triển văn hóa. Đồng thời, những giá trị văn hóa lạc hậu, lỗi thời có nguồn gốc từ tính cộng đồng làng 14 xã có xu hướng lây lan tư tưởng cục bộ địa phương, cảm tính, manh mún; thói cào bằng, đố kỵ, bệnh hẹp hòi, ích kỷ; bệnh háo danh; bệnh thành tích; bệnh phong trào, hình thức; bệnh nói xấu sau lưng; bệnh vô cảm… Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, văn hóa Việt Nam là một nền văn hóa đa dạng và rất phong phú của 54 dân tộc sinh sống trên đất nước ta. Nền văn hóa của dân tộc do nhân dân sáng tạo nên và ngày càng phát huy giá trị trong đời sống.
Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII ra đời, ghi nhận, đánh giá vị trí, vai trò của VHPVT trong đời sống xã hội, là một bộ phận của nền văn hóa, di sản văn hóa xứng đáng là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển KT - XH. Vì vậy, Đảng chủ trương: Chính sách bảo tồn, phát huy di sản văn hóa dân tộc hướng vào cả văn hóa vật thể và phi vật thể. Tiến hành sớm việc kiểm kê, sưu tầm, chỉnh lý vốn văn hóa truyền thống (bao gồm cả văn hóa bác học và văn hóa dân gian) của người Việt và các dân tộc thiểu số; phiên dịch, giới thiệu kho tàng văn hóa Hán Nôm. Bảo tồn các di tích lịch sử, văn hóa và danh lam, thắng cảnh, các làng nghề truyền thống… Trọng đãi các nghệ nhân bậc thầy trong các ngành nghề truyền thống [38, tr.
* Thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể trước năm 1998. Ưu điểm: Thứ nhất, bảo tồn và phát huy giá trị yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội. Lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam là một truyền thống quý báu, được sinh dưỡng từ cộng đồng dân cư của một nước nông nghiệp luôn gắn bó, cố kết, đùm bọc, che chở và giúp đỡ lẫn nhau để chống lại thiên tai, địch họa. Giá trị yêu nước được biểu hiện qua các làn điệu dân ca, các lễ hội truyền thống của dân tộc, phong tục tập quán, tín ngưỡng ở mỗi địa phương.
Đó là tình yêu quê hương, làng xóm, yêu thương con người Việt Nam và nó được kết tinh ở tình cảm đạo đức “trung với nước, hiếu với dân”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm 15 lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” [62, tr. Sau năm 1945, đất nước Việt Nam non trẻ đã phải đứng lên chống lại thực dân Pháp, để phát huy giá trị yêu nước, khích lệ nhân dân đứng lên chống giặc ngoại xâm, VHPVT trong giai đoạn này có nhiều các sáng tác, tác phẩm mới ra đời mục đích thúc đẩy phát huy giá trị yêu nước của dân tộc. Vào những năm cuối thập kỷ 80 đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, khi CNXH ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, Việt Nam rơi vào tình thế vô cùng khó khăn, khủng hoảng về KT - XH, sản xuất tăng chậm, kinh tế mất cân đối nghiêm trọng, lưu thông phân phối rối ren.
Nhưng một lần nữa, nhân dân Việt Nam đã thể hiện bản lĩnh của mình, kế thừa và phát huy truyền thống yêu nước, yêu CNXH, trong hoàn cảnh mới, quyết tâm giữ vững độc lập dân tộc, kiên định mục tiêu xã hội chủ nghĩa, dám nghĩ, dám làm, phát huy sức mạnh nội lực, tranh thủ ngoại lực, từng bước vượt qua khó khăn, thử thách, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng và bước vào thời kỳ CNH, HĐH. Thứ hai, bảo tồn và phát huy giá trị đoàn kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng yếu tố đoàn kết dân tộc. Người căn dặn: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết.
Thành công, thành công, đại thành công”.