CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1,Các khái niệm chung 1. Khái niệm tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế phản ánh sự tăng , giảm quy mô nền kinh tế của mỗi quốc gia giữa năm nay với năm trước hoặc ở kỷ hiện tại và ký trước , được thê hiện ở quy mô và tốc độ tăng trưởng. Sự tăng giảm ít nhiều thể hiện quy mô tăng trưởng , còn tăng nhanh hay châm thể hiện ở tốc độ phát triển. Tăng trưởng kinh tế cao và bền vững được coi là thành tựu và là chủ đề trọng tâm của nhiều nền kính tế ở cả các nước phát triển và đang phát triển ( Chirwa& Odhiambo , 2016).
Theo Investopedia (2020) Tăng trưởng kinh tế thường được định nghĩa là sự gia tăng sản xuất hàng hoá và địch vụ kinh tế của kỳ hiện tại SO với kỳ trước, sự gia tăng của tư liệu sản xuất, lực lượng lao động, công nghệ và vốn con người đều có thê góp phần vào tăng trưởng kính té. Theo Investopedia (2020) , tong san pham quốc nội (GDP) la gia tri tiền tệ của tất cả các hàng hóa và dịch vụ đã hoàn thành được thực hiện trong một quốc gia trong một thời kỳ cụ thể. Theo The Economic Times (2020) „, GDP là giá trị cuối cùng của hàng hóa và địch vụ được sản xuất trong ranh giới địa lý của một quốc gia trong một khoảng thời gian xác định, thường là một năm. Tốc độ tăng trưởng GDP là một chi số quan trọng đánh giá hoạt động kinh tế của một quốc gia , GDP cung cấp một bức tranh tổng quát về kinh tế của một quốc gia, được sử dụng để ước tính quy mô nên kinh tế và tốc độ tăng trưởng.
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của GDP hay GNP hoặc thu nhập bình quân đầu người trong một thời gian nhất định. Bản chất của tăng trưởng kinh tế thực chất là sự gia tăng vẻ thu nhập -mặt lượng của nền kinh tế. Sự gia tang nay được đo bằng mức và tỷ lệ của thu nhập tính theo hiện vật và giá trị. Ngày nay „ yêu cầu tăng trưởng kinh tế găn liền với bền tính bền vững hay việc bảo đảm chất lượng tăng trưởng ngày càng cao.
Theo khía cạnh này , điều được nhắn mạnh nhiều hơn là sự gia tăng liên tục „ có hiệu quả của chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người.Keynes, đề đạt được su tang trưởng kinh tế tốt nhất là đề đạt được sự tăng trưởng ở mức cao thì cần có sự phối hợp đồng bộ giữa điều hành vĩ mô và điều khiến vi mô , kết hợp nhân tô khách quan và nhân tố chủ quan , vận dụng các quy luật kinh tế và sử đụng các công cụ đòn bây kinh tế như thuế , tiền tệ , lãi suất , việc làm „. Tăng trưởng kinh tế là một vấn đề cực kỳ quan trọng, liên quan đến sự thịnh suy của một quốc gia. Bởi thế, chính phủ nước nào cũng ưu tiên các nguồn lực của 10 minh cho sw tang trwong kinh té , coi dé 1a cai géc , là nền tảng đề giải quyết mọi vấn đề khác. Trên cơ sở giải quyết vấn dé tăng trưởng kinh tế tạo ra nhiều của cải mới „ người ta mới có thể giải quyết hàng loạt các vấn đề khác như cân bằng ngân sách , đầu tư theo chiều sâu , phúc lợi xã hội, giải quyết viéc lam , chéng lại tội phạm , đảm bảo ngân sách cho quốc phòng an ninh.
Ngược lại nêu không đạt được sự tăng trưởng kinh tế ở mức đo cần thiết thì trong xã hội sẽ có khả năng nảy sinh hàng loạt vấn đề khó giải quyết (Ngô Thắng Lợi , 2013). Khải niệm về vốn dau tư trực tIẾP nước ngoài Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI theo quan điểm cán cân thanh toán (BoP) xuất phát từ khung khái niệm chung của Tổ chức tiền tệ quốc tế -IME (Duce,2003) ,theo đó , đây là khoản đầu tư liên quan đến việc kiểm soát hoặc có ảnh hưởng quan trọng tới quản trị doanh nghiệp năm trong một nền kinh tế khác (IMF,2003,100). Theo Investopedia (2021) ,đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là việc một công ty hoặc một nhà đầu tư ở bên ngoài biên giới nước này mua quyền lợi trong công ty. Nói chung, thuật ngữ này được sử dụng đề mô tả một quyết định kinh doanh đề có được một cô phần đáng kê trong một doanh nghiệp nước ngoài hoặc mua hoàn toàn nó để mở rộng hoạt động của nó sang một khu vực mới.
Các quốc gia muốn đạt mức tăng trưởng kinh tế thì cần có một cú huých từ bên ngoài cụ thể như yếu tố về vốn, khoa học công nghệ hiện đại, chuyên gia. trong đó thì yếu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đóng vai trò là cú huých mang tính đột phá quan trọng trong yếu tô tăng trưởng kinh tế của các quốc gia (Tran Văn Hung , 2015). Trong các vai trò của FDI, vai trò đối với việc thúc đây tăng trưởng kinh tế là vai trò chính và thường được các quốc gia đề cập tới. Về cơ chế tác động , Nguyễn Thị Tuệ Anh và cộng sự (2006) cho răng có mối quan hệ trực tiếp giữa FDI và tăng trưởng kinh tế theo cách FDI làm gia tăng vốn vật chất của nên kinh tế và làm giảm chi phí sản xuất „ qau đó tích cực tới sản lượng.
Cũng theo tác giả, FDI còn có tác động lan toả tới nền kinh tế thông qua gia tăng áp lực cạnh tranh với các doanh nghiệp nội địa, thúc đây quá trình chuyển giao công nghệ, khuyến khích nâng cao trình độ công nghệ , khuyến khích nâng cao trình độ lao động và kiến thức quản lý cho lao động tại các quốc gia nhận FDI. Từ đó, EDI có tác động tích cực tới sản dượng. Nhận định đồng quan điểm với nhận định của Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD,2008) khi cho rằng FD] lam gia tang sản lượng, việc làm, chuyên giao công nghệ , khuyến khích xuất khẩu và cải thiện điều kiện kinh tế của các nước đang phát triển. Tuy nhiên , những nghiên cứu gần đây vẫn còn đang tranh cãi liệu FDI có thể tạo ra hiệuúứng lan toả tích cực bởi vì dù sao nó cũng là một ảnh hưởng gián tiếp của FDI.
Hanson (2001) lập luận rằng bằng chứng thực nghiệm là không hỗ trợ mạnh mẽ cho các tác động tích cực của FDI tới 11 tăng trưởng kinh tế trong nước trong khi Gorg và Greenwood(2002) cũng đã chứng minh rằng những tác động chủ yếu là tiêu cực. Khái niệm về vốn viện trợ phát triển chính thức Theo định nghĩa của Tô chức hợp tác và phát triển kinh tế thì: ODA (Official Development Assistance) là một giao dịch chính thức được thiết lập với mục đích chính là thúc đây sự phát triên kinh tế - xã hội của các nước đang phát triển. Điều kiện tài chính của giao dịch này có tính chất ưu đãi và thành tố viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25%. Nguồn vốn này được phân ra làm 3 loại theo phương thức hoàn trả.
Thứ nhất , viện trợ không hoàn lại : bên nước ngoài cung cấp viện trợ (bên nhận không cần phải hoàn lại bất kỳ chi phí nảo ) đề bên nhận thực hiện các chương trình, dự án theo thoả thuận trước giữa các bên, viện trợ không hoan lại được thực hiện dưới các dạng như hỗ trợ kỹ thuật, viện trợ nhân đạo bằng hiện vật. Thứ hai , viện trợ có hoàn lại: nhà tài trợ cho nước cần vay vốn vay một khoản tiền (tuỳ theo một quy mô và mục đích đầu tư ) với mức lãi suất ưu đãi và thời gian trả nợ thích hợp , những điều kiện ưu đãi thường là lãi suất thấp , thời hạn vay nợ dài (từ 20 đến 30 năm ), có thời gian đáo hạn ( từ 10 đến 12 năm ). Thứ ba , vốn ODA cho vay hỗn hợp : là khoản vay được kết hợp giữa hai phương thức nêu trên , là các khoản ODA kết hợp một phần ODA không hoàn lại và một phần tín dụng thương mại theo các điều kiện của tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển. Theo Morrissey (2001) , về phương diện lý thuyết , viện trợ nước ngoài được thiết kê với kỳ vọng đạt được các mục tiêu sau : Thứ nhất „ kích thích tăng trưởng kinh tế thông qua xây dựng cơ sở hạ tầng , hỗ trợ các khu vực sản xuất như nông nghiệp , mang lại các ý tưởng cho công nghệ mới.
Thứ hai , thúc đây các mục tiêu phát triển khác , như tăng cường giáo dục , y tế , hệ thống chính trị và môi trường. Thứ ba , hỗ trợ sự tiêu dùng cơ bản về lương thực và các hàng hoá thiết yêu khác „ đặc biệt trong những tình huỗng khẩn cấp theo sau các trận thiên tai hay khủng hoảng nhân đạo. Thứ tư, giúp bình ổn nền kinh tế sau các cú sốc. Tuy nhiên , những kỳ vọng trên có trở thành hiện thực hay không cần phải phụ thuộc vào tính sử dụng hiệu quả vốn này của hệ thống , bộ máy chính trị nhà nước tiếp nhận ODA (Quyet,2014).
Vốn đầu tư trực tiếp ; viện trợ phát triển chính thức và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong giai đoạn 1994-2019 Về tốc độ tăng GDP, so với năm 1994, tốc độ tăng trưởng về GDP của Việt Nam trong giai đoạn này là 1600%_, tốc độ tăng bình quân là 521% (Hình 1). Có thê nói , Việt Nam trong giai đoạn Đôi mới nền kinh tế từ năm 1986 đến nay , kết hợp với cải cách thế chế đưa đất nước theo hướng mở cửa , gắn kết các hoạt động kinh tế toàn cầu là động lực lớn thúc đây phát triển - kinh tế xã hội , nhanh chóng 12 đưa nước nghèo nhật thê giới trở thành nước có thu nhập trung binh thâp trên thê ĐIỚI. Hình 1: GDP và tốc độ tăng trưởng giải đoạn 1994-2019.