phần Mở đầu và Kết luận, luận án có năm chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về các nhân tố tác động đến ý định và quyết định sử dụng của khách hàng và mô hình nghiên cứu. Nội dung chƣơng này sẽ tổng kết các lý thuyết nền tảng về ý định và quyết định của ngƣời tiêu dùng. Trên cơ sở kế thừa và phát triển các kết quả nghiên cứu của các học giả, các giả thuyết đƣợc phát biểu. Từ đó, mô hình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hƣởng đến ý định và quyết định sử dụng thẻ ngân hàng của ngƣời tiêu dùng Việt Nam đƣợc đề xuất.
Chƣơng 2: Thiết kế nghiên cứu. Trong chƣơng này sẽ trình bày về quy trình cứu. Đó là quá trình nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lƣợng. Từ đó, phát triển các thang đo lƣờng phù hợp với bối cảnh nghiên cứu là dịch vụ cung cấp thẻ ngân hàng tạiViệt Nam.
Kết quả, bảng câu hỏi chính thức đƣợc hình thành, làm cơ sở cho bƣớc nghiên cứu tiếp theo. 12 Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu. Nội dung chƣơng 3 sẽ mô tả quá trình thu thập và xử lý dữ liệu nghiên cứu. Bao gồm các nội dung nhƣ đánh giá các giá trị của thang đo, kiểm định mô hình lý thuyết, và các giả thuyết.
Công cụ hỗ trợ đƣợc sử dụng là phần mềm excel, SPSS, AMOS. Chƣơng 4: Đánh giá kết quả nghiên cứu Chƣơng này tóm tắt kết quả, đánh giá và đƣa ra ý nghĩa của nghiên cứu. Qua nghiên cứu này có thể thấy mô hình TAM là mô hình không chỉ đơn giản là các biến bên trong mô hình mà còn kết hợp với rất nhiều mô hình theo nhƣ dự đoán của các học giả trên thế giới. Kết quả nghiên cứu cũng đã đƣợc trình bày chi tiết rõ ràng trong chƣơng này.
Chƣơng 5: Kết luận và giải pháp Chƣơng 5 nêu rõ kết luận của luận án. Từ đó, đề xuất các hàm ý quản trị trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ thẻ ngân hàng tại Việt Nam. Bên cạnh đó là những hạn chế của nghiên cứu và cuối cùng là đề xuất hƣớng nghiên cứu tiếp theo trong tƣơng lai. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN Ý ĐỊNH VÀ QUYẾT ĐỊNH SỬ DỤNG CỦA KHÁCH HÀNG VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1.
Ý định và quyết định sử dụng sản phẩm/dịch vụ của khách hàng. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, nhiều sản phẩm khoa học công nghệ đã ra đời phục vụ nhu cầu của ngƣời tiêu dùng. Nghiên cứu về hành vi tiêu dùng của khách hàng đã trở nên thay đổi theo sự phát triển của công nghệ. Porter cho rằng sản phẩm cần đáp ứng nhu cầu và sự hài lòng của khách hàng [141].
Chính vì vậy, các nhà quản trị hiểu rõ về hành vi của ngƣời tiêu dùng để bán đƣợc nhiều sản phẩm và tối đa hóa lợi nhuận. Hành vi khách hàng là lĩnh vực nghiên cứu các cá thể, tập thể hay tổ chức và tiến trình họ lựa chọn, gắn bó, sử dụng, và thải hồi các sản phẩm/dịch vụ hoặc tiến trình trải nghiệm thỏa mãn các nhu cầu của khách hàng [108]. Nghiên cứu về hành vi ngƣời tiêu dùng là khoa học nghiên cứu về cảm nhận, thái độ, hành động, và ý định, quyết định của ngƣời tiêu dùng liên quan đến sản phẩm, dịch vụ. Nhƣ vậy, nghiên cứu hành vi của ngƣời tiêu dùng là nhằm giải thích quá trình mua hay không mua một loại hàng hóa nào đó.
Nghiên cứu ý định chấp nhận và sử dụng sản phẩm/dịch vụ là một lĩnh vực nghiên cứu về hành vi ngƣời tiêu dùng. Các nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng ý định mua sắm ảnh hƣởng lớn đến hành vi mua sắm. Để thu hút đƣợc khách hàng thì các doanh nghiệp phải đánh giá đƣợc nhu cầu, xây dựng đƣợc những chiến lƣợc cung cấp sản phẩm đáp ứng nhu cầu từ đó tác động đƣợc đến ý định mua và đó là cơ sở thu hút đƣợc khách hàng mua sản phẩm của mình. Hành vi nhất quán của một cá nhân đƣợc xác định bởi ý định của họ và nó đƣợc thực hiện kết hợp với thái độ của một cá nhân và ảnh hưởng xã hội về hành vi đang đƣợc thực hiện.
Thái độ là kết quả của những gì ngƣời đó tin về hành động đang đƣợc thực hiện và kết quả mong đợi. Ảnh hƣởng xã hội là kết quả phản hồi của một cá nhân đối với những mong đợi từ nhóm bạn đồng hành (gia đình, bạn bè…) tin rằng anh ta phải tuân thủ những mong đợi đó. Có nhiều quan niệm khác nhau về hành vi của ngƣời tiêu dùng nhƣ sau: Solomon (1996) cho biết nghiên cứu về hành vi của ngƣời tiêu dùng 14 là“nghiên cứu về quá trình tham gia khi các cá nhân hoặc các nhóm chọn, mua, sử dụng hoặc hủy bỏ các sản phẩm/dịch vụ, để đáp ứng nhu cầu và ham muốn của họ”[152]. Belch (1998) cho rằng hành vi ngƣời tiêu dùnglà "quá trình hoạt động của những người tham gia trong khi tìm kiếm, lựa chọn, mua sắm, sử dụng, đánh giá và xử lý các sản phẩm và dịch vụ để đáp ứng nhu cầu và mong muốn của họ”.
Nguyễn Xuân Lãn và cộng sự (2011) cho rằng “hành vi người tiêu dùng phản ảnh tổng thể các quyết định của người tiêu dùng đối với việc thu nhận, tiêu dùng, loại bỏ hàng hóa, bao gồm sản phẩm, dịch vụ, hoạt động và ý tưởng, bởi các đơn vị ra quyết định (con người) theo thời gian”[23]. Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ (AMA), hành vi ngƣời tiêu dùng đƣợc định nghĩa là “sự tác động qua lại giữa các yếu tố kích thích của môi trường với nhận thức và hành vi của con người mà qua sự tương tác đó, con người thay đổi cuộc sống của họ”. Nguyễn Thị Hạnh (2016) quan niệm hành vi ngƣời tiêu dùng có thể đƣợc coi là: (1) những hành động của con ngƣời trƣớc, trong và sau khi mua sắm và tiêu dùng, (2) hành vi ngƣời tiêu dùng chịu sự tác động của các yếu tố thuộc môi trƣờng và hành vi tiêu dùng cũng có tác động ngƣợc trở lại đối với môi trƣờng [9]. Nhƣ vậy, hành vi của ngƣời tiêu dùng là kết quả của quá trình trƣớc, trong và sau khi mua sắm, tiêu dùng.
Hành vi ngƣời tiêu dùng chịu tác động bởi nhiều yếu tố trong đó có yếu tố của chính sản phẩm/dịch vụ và các yếu tố môi trƣờng với nhận thức của con ngƣời. Nghiên cứu về hành vi ngƣời tiêu dùng về dịch vụ/sản phẩm công nghệ là các nghiên cứu về sự chấp nhận công nghệ vậy: Chấp nhận công nghệ là “thái độ tích cực đối với một công nghệ có sẵn và sự kết hợp với ý định sử dụng công nghệ”[108]. Chấp nhận công nghệ tác động trực tiếp vào thời gian sử dụng và nó đƣợc cho rằng “một sản phẩm được sử dụng càng dài thì sự chấp nhận càng cao” [108]. Sự chấp nhận công nghệ có ảnh hƣởng trực tiếp đến quyết định có ý thức thực hiện để sử dụng một sản phẩm trong tƣơng lai.
“Mức độ chấp nhận càng cao thì dự định sử dụng càng mạnh mẻ”[108]. Davis [70] đƣa ra mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) trong nghiên cứu của mình.Trong mô hình này Davis cho rằng động cơ của ngƣời sử dụng có thể giải 15 thích bằng 3 nhân tố:cảm nhận dễ sử dụng (PEU), cảm nhận hữu ích (PU) và thái độ sử dụng (Att). Ông ta giả thuyết rằng thái độ của ngƣời sử dụng một hệ thống là một yếu tố quyết định lớn khẳng định liệu ngƣời dùng sẽ sử dụng hoặc từ bỏ hệ thống. Thái độ của ngƣời sử dụng đƣợc xem nhƣ là bị ảnh hƣởng bởi hai niềm tin lớn: PU và PEU, trong đó PEU có một ảnh hƣởng trực tiếp lên PU.
Mục đích của mô hình TAM là giải thích hành vi chấp nhận sử dụng của ngƣời tiêu dùng sản phẩm/ dịch vụ công nghệ là sản phẩm của hệ thống ngƣời dùng cuối (end-user system) [75]. Để giải thích rõ hơn về sự chấp nhận công nghệ và hành vi ngƣời tiêu dùng sản phẩm dịch vụ công nghệ ta cần tìm hiểu sâu hơn về các khái niệm sau: Ý định sử dụng (BI - Behavior Intention) đƣợc xem là “bao gồm các yếu tố động cơ có ảnh hưởng đến hành vi của mỗi cá nhân; các yếu tố này cho thấy mức độ sẵn sàng hoặc nỗ lực mà mỗi cá nhân sẽ bỏ ra để thực hiện”[57]. Ý định là một yếu tố dùng để đánh giá khả năng thực hiện hành vi trong tƣơng lai, nó thúc đẩy một cá nhân sẵn sàng thực hiện hành vi [57]. Ý định sử dụng hệ thống đƣợc xác định bởi ý định thực hiện hành vi đƣợc tiên đoán bởi ba yếu tố: thái độ đối với hành vi, ảnh hƣởng xã hội và cảm nhận kiểm soát hành vi mà cuối cùng xác định việc sử dụng hệ thống thực tế.
Hay “ý định là hành động của con người được cân nhắc ba yếu tố niềm tin vào hành vi, niềm tin vào sự ảnh hưởng xã hội, niềm tin vào sự kiểm soát. Các niềm tin này càng mạnh thì ý định hành động của con người càng lớn” [58].Ý định đƣợc đo lƣờng bằng có ý định sử dụng (inten to use) và có kế hoạch sử dụng (plan to use) [139], [150], [159]. Nghiên cứu của Engel và cộng sự (1978) cho rằng “ý định chấp nhận và sử dụng dịch vụ là những suy nghĩ và cảm nhận của con người trong quá trình mua sắm và tiêu dùng và đó là quá trình nhận biết nhu cầu, tìm kiếm thông tin, đánh giá chọn lựa, quyết định mua”. Ý định mua sản phẩm/ dịch vụ là thƣớc đo mức độ thực hiện hành vi đặc biệt nào đó của một ngƣời.
BI là một nhân tố quan trọng để dự đoán quyết định sử dụng (U- actual usage) công nghệ đã đƣợc kiểm chứng qua rất nhiều nghiên cứu trƣớc đây [71], [159], [167]. Một trong những kết luận Davis [71] là ngƣời sử dụng máy tính có thể đƣợc dự đoán phù hợp từ dự định của họ. Nghiên cứu với mô hình hành động hợp lý TRA và TAM cho thấy niềm tin của một cá nhân xác định thái độ sử dụng hệ thống 16 và, lần lƣợt, thái độ phát triển BI. Cuối cùng, BI này ảnh hƣởng đến U sử dụng hệ thống.
Các hệ quả này đã đƣợc nghiên cứu và đƣợc chấp nhận rộng rãi [64], [129], [153], [162]. Hành vi của cá nhân sử dụng hệ thống phần lớn giải thích ý định của họ [54], [71], [72], [125], [159]. BI tác động đáng kể đến khả năng U của ngƣời sử dụng hệ thống (Methieson, 1991). Ý định sử dụng hệ thống đƣợc mô hình hóa nhƣ là một chức năng của việc sử dụng hệ thống và cảm nhận hữu ích [75], [159].