CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN KHÁCH HÀNG SỬ DỤNG THẺ NGÂN HÀNG 1. TỔNG QUAN VỀ THẺ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về thẻ ngân hàng 1. Sự ra đời của thẻ ngân hàng Tiền tệ ra đời và đi vào lưu thông, thực hiện rất nhiều chức năng của mình, một trong những chức năng quan trọng nhất đó là chức năng thanh toán.
Khi đời sống con người ngày càng văn minh hiện đại, với nhu cầu của con người ngày một nâng cao thì tiền tệ cũng thể hiện chức năng của mình dưới nhiều hình thức hơn để thỏa mãn nhu cầu của con người. Hiện nay, tiền tệ thực hiện chức năng thanh toán thông qua 2 hình thức là: thanh toán dùng tiền mặt và thanh toán không dùng tiền mặt. Thanh toán dùng tiền mặt xuất hiện từ lâu và được coi là phương thức đơn giản và tiện dụng nhất trong quá trình thanh toán hàng hóa, dịch vụ, nhất là khi quy mô sản xuất nhỏ và giản đơn. Song khi nền kinh tế phát triển với tốc độ cao cả về chất lượng thì việc thanh toán dùng tiền mặt không còn đáp ứng tối ưu nhu cầu giao dịch trên thị trường.
Thanh toán không dùng tiền mặt đã ra đời để mang lại sự hài lòng cho chính khách hàng giao dịch. Khi thanh toán không dùng tiền mặt, người giao dịch có thể chọn lựa nhiều cách khác nhau: ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, thanh toán qua Séc….trong đó nổi bật hơn cả là phương thức thanh toán bằng thẻ thanh toán. Năm 1914, công ty xăng dầu California (nay là công ty Moblie) phát thẻ cho nhân viên của mình để khuyến khích bán sản phẩm công ty đó là lần đầu tiên thẻ xuất hiện. Lúc đó, thẻ mới chỉ được sử dụng trong công ty do công ty thấy tiện trong thanh toán, chưa có bất kỳ quy định nào về hạn mức giao dịch hay các rủi ro cần phải dự phòng, kiểm soát.
Đến năm 1949, Luật sư người Mỹ - Frank Mc Namara trong một lần đi ăn đã quên mang tiền và đã nảy sinh ra phương thức thanh toán mới mà không cần 12 dùng tiền mặt mà vẫn thanh toán được và có thể dùng ở bất cứ nơi đâu, chứ không phải chỉ ở trong phạm vi công ty; đó là sử dụng thẻ thanh toán. Sau đó Frank đã vận động 14 nhà hàng chấp nhận để ông và hơn 200 đồng nghiệp bạn bè của ông trả tiền bằng cách xuất trình tấm thẻ nhỏ mang tên Diners Club. Đây chính là tên gọi đầu tiên của tấm thẻ tín dụng trên thế giới. Sau đó phương thức này ngày càng phát triển rộng hơn, vào năm 1958, Thẻ American Express đã đưa vào ứng dụng và phát triển nhanh chóng.
Cứ như thế, cho đến ngày hôm nay, phương thức thanh toán và sử dụng thẻ thanh toán đã trở thành phổ biến trên thế giới.Ở Việt Nam, phương thức thanh toán thẻ ngày càng phát triển và phổ biến tuy nhiên vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, đòi hỏi cần phải được khắc phục, hoàn thiện. Khái niệm và tính năng của thẻ Có nhiều quan niệm khác nhau về Thẻ ngân hàng, nhưng theo đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài, tôi xin đề cập đến khái niệm về Thẻ ngân hàng như sau: Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện các giao dịch gửi, nạp, rút tiền mặt, thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ và sử dụng các dịch vụ khác do tổ chức phát hành thẻ, tổ chức thanh toán thẻ cung ứng theo các điều kiện và điều khoản được các bên thoả thuận. Vai trò của thẻ ngân hàng Trải qua vài thập kỷ hình thành và phát triển, phương thức thanh toán thẻ đã và đang chứng tỏ ưu việt của mình so với các phương thức thanh toán ra đời trước đó. Các tiện ích do thẻ đem lại cho nền kinh tế cũng như các chủ thể tham gia hoạt động thanh toán thẻ là yếu tố quan trọng, quyết định sự phát triển của loại hình thanh toán này trên toàn thế giới.
* Đối với nền kinh tế Hoạt động giao dịch dùng tiền mặt và trao đổi hàng hoá chiếm phần đáng kể trong hầu hết các nền kinh tế, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Dù được 13 gọi bằng bất kỳ tên nào (thành phần kinh tế không chính thức, thị trường chợ đen hay nền kinh tế trong bóng tối…) thì việc phụ thuộc vào thanh toán tiền mặt sẽ tạo điều kiện cho các giao dịch trở thành hoạt động ngoài luồng của nền kinh tế chính thống. Bằng việc khuyến khích hệ thống thanh toán điện tử phát triển mà cốt lõi là thanh toán thẻ, Chính phủ và NHTW các nước có thể giảm và kiểm soát được khối lượng tiền mặt trong lưu thông, làm cho các giao dịch thương mại minh bạch hơn, từ đó tăng doanh thu từ thuế cũng như thực hiện các biện pháp kích cầu, cải thiện môi trường văn hóa kinh doanh minh thương mại, thu hút, mở rộng du lịch và đầu tư trực tiếp nước ngoài. * Đối với chủ thẻ Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các phương thức thanh toán phi tiền mặt như séc, ngân phiếu…ngày càng được sử dụng rộng rãi trong các giao dịch kinh doanh của các tổ chức kinh tế.
Tuy nhiên, các phương tiện thanh toán này mới chỉ giới hạn trong các giao dịch kinh tế, ít được phổ biến trong sinh hoạt của đại bộ phận dân cư. Sự ra đời của thẻ ngân hàng đã đáp ứng nhu cầu giao dịch đơn lẻ của các cá nhân ngày càng tăng lên và từng bước thay thế giao dịch bằng tiền mặt trong xã hội. Như vậy có thể nói chủ thẻ là người được hưởng lợi trực tiếp nhất trong hoạt động thanh toán thẻ. Các tiện ích mà hoạt động thanh toán thẻ đem lại cho chủ thẻ bao gồm: - Sự linh hoạt: Với hình thức đa dạng, phong phú, thẻ ngân hàng thích hợp với mọi đối tượng khách hàng, từ những khách hàng có thu nhập thấp (thẻ thường) cho tới những khách hàng có thu nhập cao (thẻ vàng), nếu có nhu cầu rút tiền mặt (thẻ rút tiền mặt), hay đi du lịch,vui chơi giải trí, thẻ ngân hàng đều có thể cung cấp độ thoả dụng tối đa cho mọi đối tượng khách hàng.
- Sự tiện lợi: Là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, thẻ ngân hàng cung cấp cho khách hàng sự tiện lợi tối đa mà không một phương tiện thanh toán nào có thể mang lại được. Đặc biệt đối với những khách hàng đi công tác, du lịch nước ngoài thì thẻ ngân hàng có thể giúp họ thanh toán ở bất cứ nơi nào mà không cần phải mang theo tiền mặt hay séc du lịch, không phụ 14 thuộc vào khối lượng tiền họ cần thanh toán. Thẻ ngân hàng được coi là phương tiện thanh toán ưu việt nhất trong số các phương tiện thanh toán phục vụ tiêu dùng hiện nay. - Sự an toàn và nhanh chóng: Chủ thẻ có thể hoàn toàn yên tâm về số tiền của mình trước nguy cơ bị mất cắp.
Thậm chí, dù thẻ ngân hàng có thể bị lấy cắp thì ngân hàng cũng bảo vệ cho chủ thẻ bằng mã số PIN, ảnh và chữ ký trên thẻ nhằm tránh khả năng rút tiền của kẻ ăn trộm. Hơn thế nữa, hầu hết các giao dịch thẻ đều được thực hiện qua mạng kết nối trực tuyến từ cơ sở chấp nhận thẻ hay điểm rút tiền mặt tới ngân hàng thanh toán, ngân hàng phát hành và các tổ chức thẻ quốc tế. Việc ghi nợ, ghi có cho các chủ thể tham gia quy trình thanh toán được thực hiện một cách tự động, dễ dàng, tiện lợi và nhanh chóng. * Đối với đơn vị chấp nhận thẻ Đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ đã cung cấp cho khách hàng sử dụng thẻ phương thức thanh toán nhanh chóng, tiện lợi, do vậy khả năng thu hút khách hàng sẽ tăng lên, doanh số cung ứng hàng hoá dịch vụ của ĐVCNT cũng tăng lên.
Thẻ thanh toán tạo cho ĐVCNT một khả năng cạnh tranh lớn hơn so với các đối thủ khác. Môi trường văn minh, hiện đại trong giao dịch, mua bán khi thanh toán thẻ là yếu tố quan trọng để thu hút khách hàng đặc biệt là khách du lịch, các nhà đầu tư nước ngoài. Chấp nhận thanh toán thẻ giúp ĐVCNT thực hiện giao dịch với khách hàng nhanh hơn. Khi giao dịch tiền mặt, việc đếm tiền, ghi chép sổ sách là rất phức tạp.
Còn giao dịch thẻ, với các thiết bị chuyển ngân điện tử tại điểm bán hàngEFTPOS (Electronic Funds Transfer at Point of Sale) được sử dụng nhiều thì rất đơn giản, người ta chỉ việc quẹt thẻ qua thiết bị, mọi thông tin trên thẻ được nhận dạng và giao dịch sẽ được thực hiện. Hệ thống EFTPOS đã đẩy nhanh quá trình xử lý khi bán hàng, giúp ĐVCNT cung cấp cho nhà phát hành thẻ những thông tin về việc bán hàng mà không phải xử lý thủ công trên giấy tờ. Hơn nữa, thanh toán thẻ còn giúp cho các ĐVCNT giảm được 15 chi phí bán hàng thông qua việc giảm chi phí đếm, bảo quản tiền mặt và quản lý tài chính. Ngoài ra việc tham gia chấp nhận thanh toán thẻ cũng là điều kiện cần thiết để ĐVCNT nhận được các ưu đãi của ngân hàng như: ưu đãi về tín dụng, về dịch vụ thanh toán.
* Đối với Ngân hàng Thứ nhất, thanh toán thẻ tạo nguồn thu cho ngân hàng. Thu nhập từ thẻ mà ngân hàng có được là: Phí ĐVCNT, phí sử dụng thẻ (Phí thường niên) và lãi suất cho khoản tín dụng ma chủ thẻ chậm thanh toán. Đó là chưa kể các khoản thu từ các dịch vụ ngân hàng và đầu tư kèm theo. Thứ hai, thanh toán thẻ làm tăng nguồn vốn huy động cho ngân hàng.
Nhờ phát hành thẻ thanh toán, số lượng tiền gửi của khách hàng để thanh toán thẻ và số lượng tài khoản của các ĐVCNT cũng tăng lên. Với lượng khách hàng giao dịch thẻ ngày càng lớn, các tài khoản này sẽ tạo cho ngân hàng một lượng vốn bằng tiền đáng kể không phải trả lãi, cũng có thể coi là một nguồn sinh lợi cho ngân hàng. Thứ ba, thẻ thanh toán ra đời làm phong phú thêm các dịch vụ ngân hàng, mang đến cho ngân hàng một phương tiện thanh toán đa tiện ích, thoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Không chỉ có vậy, ở các nước phát triển, phát triển dịch vụ phát hành và thanh toán thẻ ngân hàng có thêm cơ hội để phát triển các dịch vụ khác song song như: đầu tư hoặc bảo hiểm cho các sản phẩm.
Thông tin về các loại hình dịch vụ này sẽ được gửi đến cho khách hàng sử dụng thẻ cùng với sao kê hàng tháng của ngân hàng.