CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu trong và ngoài nước về các nhân tố tác động đến khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu 1. Các nghiên cứu nước ngoài Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về tác động của các nhân tố nội và ngoại sinh đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp. Hiệu quả kinh doanh của DN là một yếu tố quan trọng khi quyết định đầu tư vào cổ phiếu của DN đó.
Các nghiên cứu trên thế giới đã thực hiện kiểm định vấn đề này nhiều lần bằng các mô hình và mẫu dữ liệu khác nhau. Các biến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp luôn được thể hiện thông qua các hệ số tài chính như khả năng sinh lời trên tổng tài sản (ROA), khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu (VCSH) (ROE) và các biên lợi nhuận ròng. Trong các nghiên cứu mà tác giả tổng hợp, hầu hết hiệu quả hoạt động được thể hiện qua tỷ số ROA và ROE, tuy nhiên bài nghiên cứu tập trung vào tác động của các nhân tố đến khả năng sinh lời trên VCSH (ROE) ít hơn các bài về ROA. Chính vì vậy, bài nghiên cứu đã lựa chọn biến phụ thuộc ROE để xem tác động của các nhân tố.
Mặc dù vậy, tác giả vẫn sẽ sử dụng các bài nghiên cứu về ảnh hưởng của các nhân tố lên biến ROA hoặc cả hai biến ROA và ROE để tham khảo. Các nghiên cứu tác động đến chỉ số ROE Nghiên cứu của Boldeanu & Pugna (2014) với đề tài “The analysis of the influence factors affecting the performance of pharmaceutical companies” đã phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến hiệu quả tài chính thông qua hệ số ROE của các doanh nghiệp trong ngành dược phẩm. Mục đích chính của bài nghiên cứu nhằm xác định các nhân tố nội bộ xuất phát từ phía các công ty có tác động đến ROE của 23 công ty thuộc ngành dược phẩm đến từ CEE trong giai đoạn 2010 – 2012 và từ đó tạo ra một mô hình kinh tế lượng thích hợp. CEE là tập hợp gồm 7 nước: Bulgaria, Ba Lan, Romania, Nga, Slokavia, Thổ Nhĩ Kỳ, Ukraine.
Bài nghiên cứu sử dụng mô hình tuyến tính đa biến với phương pháp OLS cùng các biến độc lập được chia làm 4 nhóm chính: Nhóm 1 là các yếu tố động lực tăng trưởng (lợi nhuận trước thuế, lãi vay và khấu hao - EBITDA, biên lợi nhuận sau thuế - Net Profit Margin, lợi nhuận trên một cổ phiếu – EPS), nhóm 2 là các nhân tố thanh khoản (Hệ số thanh toán hiện hành – Current Ratio, hệ số thanh toán nhanh – Quick Ratio), nhóm 3 là các nhân tố rủi ro 6 (hệ số nợ trên tổng tài sản – DTTA), nhóm 4 là các nhân tố về quy mô doanh nghiệp (giá trị sổ sách – BV). Bên cạnh đó, bài viết còn sử dụng 2 biến giả đó là nguồn gốc của các quốc gia (1 nếu là các doanh nghiệp ở Romania và 0 nếu doanh nghiệp đến từ các nước khác và các loại thuốc (1 nếu là loại thuốc được sản xuất bởi các công ty thuốc và có bằng sáng chế và 0 đối với các nhà sản xuất thuốc chung. Trong bài nghiên cứu có sử dụng các mô hình hồi quy logarit để loại bỏ các yếu tố và đưa ra được hai biến tác động cùng chiều đến ROE đó là biến EPS và Net Profit Margin bởi hai biến đều thể hiện tình hình hoạt động bên trong của các công ty. Qua kết quả và mô hình, bài nghiên cứu đã giúp ban lãnh đạo của công ty đưa ra quyết định chính xác dể nâng cao sự thịnh vượng của công ty.
Hạn chế của bài nghiên cứu là còn giới hạn mẫu dữ liệu, thiếu thông tin về các công ty ngành dược phẩm và thiếu các biến độc lập quan trọng khác như biến chi phí nghiên cứu và phát triển. Nghiên cứu đã phân tích các ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố bên ngoài (lạm phát, tỷ giá hối đoái, lãi suất của ngân hàng Indonesia) và các yếu tố nội bộ (cơ cấu vốn, hệ số thanh toán ngắn hạn) lên ROE của các công ty tại Jakarta Muskim Index. Bên cạnh đó, phân tích gián tiếp các yếu tố bên ngoài và bên trong đến rủi ro đầu tư vào các công ty này và tác động của ROE vào rủi ro đầu tư tại các công ty. Bài nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến với dữ liệu từ 10 công ty trên Sở giao dịch Jakarta Muskim trong giai đoạn 2011 – 2015.
Kết quả nghiên cứu cho thấy lạm phát và tỷ giá hối đoái không ảnh hưởng đến ROE vì mẫu dữ liệu nghiên cứu về các sản phẩm hàng hóa không có biến động về giá nên lạm phát và tỷ giá hối đoái không quá ảnh hưởng đến ROE. Cơ cấu vốn và hệ số thanh toán ngắn hạn ảnh hưởng cùng chiều đến ROE vì cơ cấu nợ giúp tạo ra khoản lợi nhuận lớn hơn và hệ số thanh toán ngắn hạn càng cao thì càng tạo ra được lợi nhuận cho công ty, tuy nhiên 2 biến này không ảnh hưởng đến rủi ro đầu tư. Lãi suất của ngân hàng Indonesia không ảnh hưởng đến ROE nhưng ảnh hưởng đáng kể đến rủi ro đầu tư. Bài nghiên cứu được gợi ý cần đưa thêm các biến ngoại sinh khác như GDP, các biến nội sinh như tốc độ tăng trưởng của tài sản, đòn bẩy tài chính) và sử dụng thêm các biến phụ thuộc khác bên cạnh biến ROE.
Kết quả này cũng giúp các nhà đầu tư chú ý hơn đến các nhân tố 7 nội sinh như cấu trúc vốn, hệ số thanh toán ngắn hạn và các nhân tố nội sinh khác bởi những nhân tố đó sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận của các doanh nghiệp. (2012) nghiên cứu đề tài “The Impact of Financial Leverage to Profitability Study of Companies Listed in Bucharest Stock Exchange” với mục đích chỉ ra tác động của đòn bẩy đến lợi nhuận của các doanh nghiệp đồng thời xác định mối quan hệ giữa chỉ số ROE và 3 biến tác động bao gồm: biến đòn bẩy, biến quy mô, biến vòng quay tổng tài sản. Tác giả lựa chọn chỉ số ROE để biểu thi cho việc nghiên cứu chỉ số lợi nhuận của các công ty bởi vì ROE liên quan đến lợi nhuận mà cổ đông sẽ đổi lấy khi góp vốn vào công ty. Nếu các công ty đạt lợi nhuận cao sẽ dẫn đến giá trị lợi nhuận của các cổ đông cao hơn.
Dữ liệu của nghiên cứu là các công ty đã được niêm yết trên sàn chứng khoán Bucharest từ năm 2010 và các biến đều được lấy trong báo cáo tài chính. Hai tác giả đã dùng mô hình pooled OLS và bảng thống kê dữ liệu để nghiên cứu các tác động. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sử dụng nợ sẽ là đòn bẩy giúp tăng vốn và lợi nhuận của các công ty lên. Tuy nhiên không chỉ có yếu tố nợ ảnh hưởng đến vốn và lợi nhuận, còn có yếu tố quy mô và vòng quay tổng tài sản.
Trong đó, hai nhân tố là nợ và vòng quay tổng tài sản có mối quan hệ tích cực và quy mô thì có mối quan hệ tiêu cực đến chỉ số ROE. Tác giả đã chỉ ra doanh nghiệp có quy mô lớn thì định hướng sẽ thiên nhiều về thu hút các trái chủ hơn là đáp ứng nhu cầu của các cổ đông góp vốn do đó sẽ tác động ngược đến hiệu quả của ROE. Bài nghiên cứu khẳng đinh ROE là thước đo toàn diện nhất về lợi nhuận của một công ty bởi ROE liên quan đến cac hoạt động sản xuất, các quyết định đầu tư cũng như quyết định tài chính và các quyết định liên quan đến thuế. Các nghiên cứu tác động đến nhóm các chỉ số khả năng sinh lời Bài nghiên cứu “Factors Affecting Financial Performance of Firms Listed on Shanghai Stock Exchange 50(SSE 50)” của Mou Xu (2013) đã xác định ảnh hưởng của 4 nhân tố bao gồm: hệ số thanh toán hiện hành, vòng quay tổng tài sản, hệ số nợ và quy mô doanh nghiệp với biến giả đến hiệu quả hoạt động kinh doanh thông qua chỉ số ROA và ROE của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Shanghai 50 (SSE50).
Tác giả chọn hai chỉ số ROA và ROE bởi vì ROA đo lường hiệu quả của doanh nghiêp bằng cách sử dụng tài sản để tạo ra lợi nhuận và ROE đo lường lợi nhuận của công ty được tạo ra khi sử dụng một đồng vốn chủ sở 8 hữu. Các chỉ số cao cho thấy khả năng quản lý và sử dụng hiệu quả tài sản cũng như VCSH để tạo ra lợi nhuận cao hơn. Bộ dữ liệu bao gồm 28 doanh nghiệp được niêm yết trên sàn chứng khoán Shanghai 50 giai đoạn 2008 – 2012. Nghiên cứu đã sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến bằng phương pháp OLS với 2 biến phụ thuộc là ROA và ROE chạy lần lượt từng mô hình để xem mức độ và hướng tác động của các biến độc lập.
Kết quả chỉ ra rằng vòng quay tổng tài sản có tác động cùng chiều đến ROE và ROA, điều này phù hợp vì hiệu quả sử dụng tài sản càng cao sẽ giúp cho các công ty tăng thị phần bằng cách tập trung vào các thị phần cạnh tranh cốt lõi, giảm thiểu các loại chi phí và sử dụng hợp lý các tài sản để đầu tư mở rộng vị trí trên thị trường. Hệ số nợ đại diện cho đòn bẩy tài chính có tác động ngược chiều đến ROE và ROA bởi vì khi đòn bẩy tài chính cao sẽ dẫn đến rủi ro vỡ nợ nếu không trả được nợ và không thể tìm người cho vay mới. Hệ số đòn bẩy tài chính cao sẽ dẫn đến giới hạn trong các cơ hội đầu tư tài sản và làm giảm giá trị của doanh nghiệp. Hai biến hệ số thanh toán hiện hành đại diện cho hệ số thanh toán ngắn hạn và quy mô doanh nghiệp lớn hay nhỏ đều không có ảnh hưởng đến hai biến phụ thuộc.
Hạn chế của bài nghiên cứu này là việc mẫu dữ liệu và biến giải thích còn hạn chế, thời gian nghiên cứu lấy theo năm sẽ không diễn tả được hết các diễn biến kinh tế trong năm và cuối cùng bài nghiên cứu chỉ dùng một phương pháp định lượng để kiểm định mô hình. (2013) đã nghiên cứu đề tài “Impact of Capital Structure on Financial Performance of the Listed Trading Companies in Sri Lanka”. Mục đích của bài nghiên cứu là phân tích cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động của DN từ năm 2006 – 2010 của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Sri Lanka.