CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn chính sách kế toán trong doanh nghiệp không phải là đề tài mới trong thời gian gần đây, hướng nghiên cứu này đã được phát triển từ những năm 1980 với các nghiên cứu thực nghiệm của Healy (1985) cho đến nghiên cứu của Watts và Zimmerman (1990) làm nền tảng cho rất nhiều nghiên cứu sau này. Vì vậy trong chương này, tác giả tiến hành lược khảo các nghiên cứu có liên quan đến việc lựa chọn chính sách kế toán trong và ngoài nước nhằm làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình trong đề tài ở các chương sau. Các nghiên cứu nước ngoài Nghiên cứu của Healy (1985): Ảnh hưởng của kế hoạch tiền thưởng đến lựa chọn chính sách kế toán. Healy đã thực hiện nghiên cứu về ảnh hưởng của kế hoạch tiền thưởng đối với người quản lý đến số liệu kế toán trên BCTC nhằm thu thập bằng chứng rằng liệu các kế hoạch này có ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của người quản lý không.
Nghiên cứu đã khảo sát cách thức tính khoản thưởng cho nhà quản lý và tính hiệu số giữa lợi nhuận trong kỳ và lợi nhuận tối thiểu: Pt {max [Et – Lt]} hoặc Pt (min {Ut, max [ Et – Lt], 0}) Khi lợi nhuận trong kỳ (Et) nhỏ hơn mức tối thiểu (Lt), hiệu số (Et - Lt) nhỏ hơn 0 khoản tiền thưởng sẽ là 0. Khi lợi nhuận trong kỳ cao hơn mức tối thiểu phần chênh lệch sẽ được nhân tỷ lệ phần trăm Pt để tính ra khoản thưởng. Quy định này khuyến khích các nhà quản lý nâng cao lợi nhuận cao hơn mức tối thiểu; nhằm khắc phục tâm lý sợ rủi ro của nhà quản lý. Khi khoản chênh lệch (Et – Lt) quá lớn, vượt khỏi mức lợi nhuận tối đa Ut thì nhà quản lý chỉ tính tiền thưởng trên Ut.
Cách tính này nhằm hạn chế người quản lý chạy theo lợi nhuận quá mức, mang lại rủi ro quá cao cho DN. Trong bối cảnh trên, người quản lý sẽ tìm cách ảnh hưởng đến số liệu kế toán để mang lại lợi ích cho mình. Healy cũng xem xét vấn đề lựa chọn CSKT bằng cách khảo sát tổng dồn tích của DN. Tổng dồn tích là chênh lệch giữa lợi nhuận và dòng tiền từ hoạt động kinh 123doc 6 doanh bao gồm khấu hao, chênh lệch hàng tồn kho, các khoản phải thu và phải trả của DN.
Các khoản dồn tích sẽ tăng lên khi nhà quản lý muốn tăng lợi nhuận và ngược lại. Nghiên cứu sử dụng danh sách năm 1980 của 250 công ty niêm yết thuộc lĩnh vực công nghiệp lớn nhất, sau đó chọn lọc 94 công ty có đầy đủ kế hoạch khen thưởng. Kết quả phân tích thống kê của Healy cho kết quả như mong đợi tức là kế hoạch tiền thưởng đối với nhà quản lý có ảnh hưởng rất lớn đến việc lựa chọn CSKT của DN Nghiên cứu của Watts và Zimmerman (1990): Watts và Zimmerman (1990) đã xem xét lại các nghiên cứu kế toán thực chứng trong lựa chọn kế toán. Nhóm tác giả đã chỉ trích nhiều nhà nghiên cứu chỉ tập trung vào một lựa chọn kế toán tại một thời điểm trong khi hầu hết các nhà quản lý tìm kiếm một kết quả có thể là do kết hợp ảnh hưởng của một số lựa chọn kế toán.
Ba giả thuyết chính thường xuyên được sử dụng để giải thích và dự đoán mối tương quan thuận hay nghịch của các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn phương pháp kế toán trong nghiên cứu là: giả thuyết kế hoạch tiền thưởng, giả thuyết nợ và giả thuyết chính trị với giả thiết người quản lý là người theo chủ nghĩa cơ hội và giả thiết chi phí kết hợp đồng hiệu quả. Giả thuyết kế hoạch tiền thưởng là giả thuyết nhà quản lý của các DN chi trả tiền thưởng theo lợi nhuận có nhiều khả năng sẽ sử dụng phương pháp kế toán làm tăng lợi nhuận kỳ báo cáo để tăng giá trị các khoản tiền thưởng theo lợi nhuận kỳ báo cáo nhằm tăng giá trị khoản tiền thưởng trả cho mình. Tuy nhiên những thử nghiệm ban đầu của giả thiết tiền thưởng cho thấy nó không thích hợp trong nhiều trường hợp. Giả thuyết nợ (còn gọi là giả thuyết nợ trên vốn chủ sở hữu) cho rằng nếu tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu của DN càng cao thì nhà quản lý có nhiều khả năng sử dụng các phương pháp kế toán làm tăng lợi nhuận để tránh vi phạm trong những cam kết vay vốn.
Cuối cùng, giả thuyết chi phí chính trị cho rằng các DN lớn có nhiều khả năng lựa chọn CSKT làm giảm lợi nhuận báo cáo hơn là các DNNVV để giảm thiểu chi phí chính trị. Bằng chứng thực nghiệm thu được nhìn chung phù hợp với giả thuyết chi phí chính trị. Sau Watts và Zimmerman có rất nhiều nghiên 123doc 7 cứu được xây dựng trên các giả thuyết này và có thể được phát triển thêm để dự đoán những quy luật thực nghiệm mới. Nghiên cứu của Steven Young (1998): Mục đích của nghiên cứu Steven Young là xác định các nhân tố quyết định sự lựa chọn CSKT quản trị ở nước Anh được thực hiện tại các công ty thuộc ngành công nghiệp và thương mại.
Các giả thuyết nghiên cứu của tác giả kế thừa từ nghiên cứu của Watts và Zimmerman trên cơ sở lý thuyết chi phí ký kết hợp đồng, lý thuyết ổn định lợi nhuận và lý thuyết tín hiệu thông tin. Lý thuyết chi phí ký kết hợp đồng chi phối giả thuyết nợ và giả thuyết kế hoạch tiền thưởng dựa trên lợi nhuận có mối quan hệ tích cực với sự lựa chọn kế toán. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc lựa chọn CSKT ổn định lợi nhuận là theo nguyên tắc kế toán thận trọng và các nhà quản lý sử dụng CSKT để thấy được dấu hiệu của dòng tiền mong muốn trong tương lai đồng thời giảm khả năng vi phạm các hợp đồng nợ. Mối quan hệ giữa tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu và CSKT có thể phản ánh những thay đổi trong khả năng vi phạm hợp đồng nợ.
Theo đó, trong từng thời kỳ, dựa vào mối quan hệ giữa tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu và CSKT, các DN có thể lựa chọn CSKT để có lợi nhất cho mình. Tuy nhiên nhiều nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định quản lý đã không được xem xét trong nghiên cứu là sự khác biệt trong tác động quản trị công ty. Nghiên cứu Charles P. Cullinan (1999): Nghiên cứu của Charles khai thác một nhân tố mới ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT là các hoạt động thương mại quốc tế.
Hoạt động thương mại quốc tế có thể tạo ra động lực lựa chọn CSKT theo hướng lợi nhuận ngày càng tăng thông qua kết quả kiểm tra thực tế sự lựa chọn phương pháp trích khấu hao của các DN ở Canada. Charles đặt ra giả thuyết là DN xuất khẩu có nhiều khả năng lựa chọn CSKT lợi nhuận tăng hơn DN không xuất khẩu và DN nhập khẩu nhiều khả năng lựa chọn CSKT lợi nhuận tăng hơn DN không nhập khẩu. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng DN nhập khẩu thường lựa chọn CSKT theo hướng lợi nhuận ngày càng tăng so với DN không nhập khẩu, xuất khẩu thì lại 123doc 8 không có ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT. Điểm mới của Charles là tác giả đã nghiên cứu thêm nhóm các bên liên quan khác mà các nhà nghiên cứu trước không đề cập đến là khách hàng và nhà cung cấp nước ngoài.
Các bên liên quan có thể đánh giá khả năng của các đối tác thương mại dựa trên cảm nhận sức mạnh tài chính vì thế các DN có hoạt động thương mại quốc tế có thể lựa chọn CSKT tối đa hóa lợi nhuận. Bên cạnh đó nghiên cứu vẫn có một số hạn chế nhất định liên quan đến dữ liệu có sẵn và khả năng khái quát, kết quả nghiên cứu chỉ giới hạn trong phạm vi các DN lớn và thương mại công khai. Nghiên cứu của Christos Tzovas (2006): Năm 2006 Christos Tzovas đã công bố nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của các DN thông qua một cuộc khảo sát các nhà quản lý tài chính của 200 DN lớn nhất ở Hy Lạp. Theo những người tham gia vào cuộc khảo sát, sự lựa chọn CSKT chịu ảnh hưởng bởi nhận thức các bên liên quan, mục tiêu lợi nhuận, mục tiêu tối thiểu hóa nghĩa vụ thuế của DN tuy nhiên những mục tiêu này có thể không đồng nhất thậm chí mâu thuẫn với nhau bởi chiến lược giảm thuế có nhiều khả năng làm phát sinh chi phí ngoài thuế đáng kể mà những chi phí này có thể sẽ thúc đẩy DN đi lệch với chiến lược giảm thuế.
Tác giả đã ghi lại bằng chứng về mức độ mà DN muốn báo cáo lợi nhuận giảm (để giảm nghĩa vụ thuế) và mức độ DN muốn báo cáo lợi nhuận tăng (để tác động tích cực đến quyết định cho vay của ngân hàng, tránh vi phạm cam kết vay vốn hay tăng giá trị cổ phiếu của DN). Kết quả nghiên cứu này cũng có thể áp dụng cho những DN hoạt động trong các quốc gia có môi trường tương tự như Hy Lạp, những phát hiện của nghiên cứu này có thể tạo điều kiện cho các chuyên gia tiến hành phân tích tài chính quốc tế, đồng thời góp phần vào việc giải thích các quyết định kế toán của những DN ở Hy Lạp. Bên cạnh đó, nghiên cứu vẫn còn có hạn chế nhất định như không thể đảm bảo loại trừ hết câu trả lời mang tính chủ quan cá nhân, vì vậy cần có một cuộc điều tra thực nghiệm nữa dựa trên báo cáo hàng năm để cung cấp thêm bằng chứng liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến CSKT của DN và cần điều tra khả năng lựa chọn CSKT chịu tác động bởi chiến lược tối thiểu 123doc 9 hóa thuế TNDN dựa trên tấm chắn thuế vì ở Hy Lạp nhiều DN sử dụng tỷ lệ nợ vay cao. Nghiên cứu của Colin R.
Dey và cộng sự (2007): Colin R. Dey và cộng sự tiến hành nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT dưới những giả thuyết của lý thuyết thực chứng đã có (Watts và Zimmerman (1990)) là giả thuyết thuế. Bằng chứng thu thập được phù hợp với giả thuyết tiền thưởng, giả thuyết nợ và giả thuyết thuế đó là sự tồn tại của kế hoạch tiền thưởng khuyến khích nhà quản lý, phương pháp kế toán khấu hao, phương pháp xác định giá trị hàng tồn kho làm tăng lợi nhuận kế toán mà không làm tăng các khoản thanh toán thuế.