CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÓI NGHÈO LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. LÝ THUYẾT VỀ NGHÈO ĐÓI: 1.1 Các định nghĩa về nghèo đói: - Theo quan niệm truyền thống nghèo được hiểu là thiếu thốn về vật chất, sống với mức thu nhập và chi tiêu thấp để thỏa mãn những nhu cầu cơ bản nhất của con người như ăn mặc, ở, y tế, giáo dục, văn hóa, đi lại và giao tiếp xã hội,… Khái niệm về nghèo đói hay nhận dạng về nghèo đói không phân biệt giữa từng quốc gia, vùng miền hay cộng đồng dân cư vì không có sự khác biệt đáng kể mà sự khác nhau là ở chỗ mức độ thỏa mãn cao hay thấp phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội hay phong tục tập quán của vùng miền, quốc gia. - Tại Hội nghị Thượng đỉnh thế giới và phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen, Đan Mạch năm 1995 người nghèo được định nghĩa: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 USD/ngày/người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại. - Theo Báo cáo Phát triển Việt Nam, Nghèo, 2004: Nghèo là tình trạng thiếu thốn ở nhiều phương diện: thu nhập bị hạn chế hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng trong những lúc khó khăn, dễ bị tổn thương trước những đột biến bất lợi, ít có khả năng truyền đạt nhu cầu và những khó khăn tới những người có khả năng giải quyết, ít được tham gia vào quá trình ra quyết định, cảm giác bị xỉ nhục, không được người khác tôn trọng,… đó là những khía cạnh của nghèo (Nghèo, 2004).
- Theo Ngân hàng thế giới (NHTG), qua thời gian cũng có những cách tiếp cận khác nhau về nghèo trong các báo cáo của mình. Năm 1990, định nghĩa nghèo đói của tổ chức này là tình trạng “không có khả năng có mức sống tối thiểu” bao gồm tình trạng thiếu thốn các sản phẩm và dịch vụ thiết yếu như giáo dục, y tế, dinh dưỡng. Đến năm 2000 và 2001, NHTG đã thêm vào khái niệm tình trạng bị gạt ra bên lề xã hội hay tình trạng dễ bị tổn thương. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 8 - Tại Việt Nam, Chính phủ đã thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo do Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993, đó là: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương” (Nguyễn Trọng Hoài, 2005).
- Tóm lại có rất nhiều khái niệm và quan điểm về đói nghèo đã tồn tại nhưng nhìn chung tất cả đều phản ảnh ba khía cạnh cơ bản của người nghèo: + Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư. + Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người trong cộng đồng đó. + Thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng. - Theo thực tế quan sát: nghèo về thu nhập – nghèo vật chất luôn liên quan đến cái gọi là nghèo về con người – sức khỏe kém, trình độ giáo dục thấp.
Nghèo về thu nhập và nghèo về con người thường kèm theo tình trạng nghèo về xã hội như tính dễ bị tổn thương trước những sự kiện bất lợi như bệnh tật, khủng hoảng kinh tế hoặc thiên tai, không có tiếng nói trong hầu hết các thể chế trong xã hội và sự bất lực trong việc cải thiện điều kiện sống cá nhân. Trong nghiên cứu này, tác giả thiên về sử dụng định nghĩa của NHTG về nghèo, đó là trình trạng “không có khả năng có mức sống tối thiểu”.2 Nghèo tuyệt đối: Một người hoặc một hộ gia đình được xem là nghèo tuyệt đối khi mức thu nhập của họ thấp hơn tiêu chuẩn tối thiểu (mức thu nhập tối thiểu) được quy định bởi một quốc gia hoặc tổ chức quốc tế trong khoản thời gian nhất định (Đinh Phi Hổ 2006). Tiêu chuẩn của NHTG về nghèo dựa trên chi tiêu tiêu dùng bao gồm mức tiêu thụ thực phẩm tối thiểu (70%) và các chi tiêu phi thực phẩm (30%) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 9 Bảng 1.1 : Tiêu chuẩn nghèo đói của Ngân hàng thế giới Tiêu chuẩn nghèo đói Khu vực (Mức thu nhập hoặc chi tiêu USD/ ngày/người) Các nước đang phát triển 1 USD hoặc 360 USD/năm Châu Mỹ Latinh và Caribe 2 USD hoặc 720 USD/năm Các nước Đông Âu 4 USD hoặc 1.440 USD/năm Các nước phát triển 14,4 USD hoặc 5.2 : Tiêu chuẩn nghèo đói của Việt Nam. Tiêu chuẩn nghèo đói.
Mức Chuẩn nghèo Khu vực thu nhập đói mới 2000 - 2005 2006 - 2010 2011 – 2015 Thành thị 150.000 đồng Nông thôn đồng bằng 120.000 đồng Nông thôn miền núi hải đảo 80.000 đồng Nguồn: Bộ LĐ TBXH.3 Nghèo tương đối. Nghèo đói tương đối là tình trạng mà một người hoặc một hộ gia đình thuộc về nhóm người có thu nhập thấp nhất trong xã hội xét theo không gian và thời gian nhất định (Đinh Phi Hổ, 2006). Theo cách sử dụng để phân tích các Điều tra Mức sống dân cư ở Việt Nam 1993-1998 thì hộ gia đình được định nghĩa là nghèo nếu mức độ chi tiêu bình quân đầu người nằm trong 20% thấp nhất của chi tiêu hoặc 20% dân số có mức chi tiêu thấp nhất. Lợi thế chính của phương pháp này là nó cho phép người ta xác định được rõ hơn các nhân tố làm tách biệt các hộ giàu với các hộ có thu nhập gần bằng hoặc thấp hơn giá trị trung vị.
Như vậy, theo cách tính này thì người nghèo đói tương đối sẽ luôn hiện diện bất kể trình độ phát triển kinh tế nào. CÁC THƯỚC ĐO CHỈ SỐ NGHÈO ĐÓI VÀ BẤT BÌNH ĐẲNG. Xác định nghèo đói: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 10 Theo NHTG ( 2007) có 3 bước để xác định nghèo đói: - Định nghĩa phúc lợi của hộ gia đình /cá nhân. - Xác định một giá trị chuẩn (tối thiểu) để tách biệt hai nhóm nghèo và không nghèo (gọi là ngưỡng nghèo).
- Tính toán các chỉ số thống kê tổng hợp dựa trên mối quan hệ giữa phúc lợi kinh tế và ngưỡng nghèo. Đo lường phúc lợi thì rất phức tạp bởi lẽ phúc lợi bao gồm tuổi thọ, chế độ dinh dưỡng, điều kiện nhà ở, tỷ lệ trẻ em đến trường, tỷ suất tử của trẻ em, … Cách phổ biến nhất trong đo lường phúc lợi (kinh tế) là dự vào chi tiêu, tiêu dùng hay thu nhập của hộ gia đình. Nếu chúng ta chia đều cho tất cả các thành viên trong hộ thì được chi tiêu, tiêu dùng hay thu nhập bình quân đầu người (hay chỉ số phúc lợi kinh tế cá nhân). Hầu hết các nước phát triển sử dụng thu nhập để xác định nghèo đói bởi thu nhập phần lớn là từ tiền lương và thông qua ngân hàng từ các tài khoản cá nhân nên dễ xác định trong khi chi tiêu thì phức tạp và khó xác định.
Ở các nước đang phát triển thì sử dụng chi tiêu bởi lẽ thu nhập rất khó xác định vì phần lớn thu nhập đến từ công việc tự làm và rất khó tách biệt trong khi chi tiêu thì dễ thấy hơn và rõ ràng hơn (WB – 2005). Theo Glewwe và Twum-Baah (1991) thu nhập thường bị khai ít đi trong khi chi tiêu được khai tương đối chính xác và ổn định hơn từ năm này sang năm khác, do đó có đủ căn cứ để dùng thước đo chi tiêu phản ánh mức sống. Theo Paxson (1993), Alderman và Paxson (1994) ở các nước kém phát triển thu nhập của hộ thường biến động theo mùa vụ trong khi chi tiêu dùng tương đối ổn định giữa các tháng trong năm. Vì thế, chi tiêu, tiêu dùng phản ánh mức sống của hộ tốt hơn con số thu nhập.
Phương pháp xác định chuẩn đói nghèo quốc tế. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 11 Tổng cục Thống kê, NHTG đã đề ra phương pháp xác định đường đói nghèo theo chuẩn quốc tế và được thực hiện trong các cuộc khảo sát mức sống dân cư ở Việt Nam vào những năm 1992-1993 và năm 1997-1998: + Đường đói nghèo ở mức thấp gọi là đường đói nghèo về lương thực, thực phẩm. Đường này được xác định theo chuẩn mà hầu hết các nước đang phát triển cũng như Tổ chức Y tế Thế giới và các cơ quan khác đã xây dựng mức Kcal tối thiểu cần thiết cho mỗi thể trạng con người, đó là chuẩn về nhu cầu 2.100 Kcal/người/ngày. Những người có mức chi tiêu dưới mức chi cần thiết để đạt được lượng Kcal này gọi là nghèo về lương thực, thực phẩm.
+ Đường đói nghèo thứ hai ở mức cao hơn gọi là đường đói nghèo chung, đó là đường đói nghèo lương thực thực phẩm cộng thêm các chi phí cho các mặt hàng phi lương thực, thực phẩm ta có đường đói nghèo chung. Phương pháp các định chuẩn đói nghèo theo Chương trình xóa đói giảm nghèo quốc gia. Kể từ năm 1993 đến nay, Việt Nam đã 4 lần nâng mức chuẩn nghèo. Chuẩn nghèo giai đoạn 2006-2010 đã được xây dựng dựa trên 3 yêu cầu : - Xóa đói giảm nghèo toàn diện hơn.
- Hội nhập theo chuẩn nghèo quốc tế. Theo đó, trong giai đoạn 2006-2010, những hộ gia đình ở nông thôn có mức thu nhập dưới 200.000 đồng/người/tháng (2,4 triệu đồng/năm) được xem là hộ nghèo. Ở khu vực thành thị, những hộ có mức thu nhập bình quân dưới 260.000 đồng/người/tháng (3,12 triệu đồng/năm) được xem như là hộ nghèo. Trong giai đoạn 2011-2015 chuẩn nghèo mới mới vừa được Bộ LĐTBXH công bố đó là hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 12 người/ tháng trở xuống, hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng/người/tháng trở xuống.
Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng trở xuống,hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng/người/tháng. Mức chuẩn nghèo nêu trên là căn cứ để thực hiện các chính sách an sinh xã hội và các chính sách kinh tế, xã hội khác. Thước đo chỉ số nghèo đói và bất bình đẳng: 1.