Chương 1 của Luận văn, người viết trình bày những vấn đề cơ bản về BTTH về tinh thần do vi phạm hợp đồng với các nội dung như sau: khái niệm về thiệt hại về tinh thần do vi phạm hợp đồng; chấp nhận trách nhiệm BTTH về tinh thần do vi phạm hợp đồng; căn cứ làm phát sinh trách nhiệm BTTH về tinh thần do vi phạm hợp đồng; mức BTTH về tinh thần do vi phạm hợp đồng. Khái niệm và đặc điểm của thiệt hại về tinh thần do vi phạm hợp đồng 1. Khái niệm thiệt hại về tinh thần do vi phạm hợp đồng Trên thế giới, các luật gia sử dụng cụm từ “pretium doloris” – giá tiền của sự đau thương để nói về thiệt hại về tinh thần. Dựa theo từ điển The Essential Law Dictionary, “thiệt hại về tinh thần” hay “tổn thất tinh thần” được sử dụng bằng 3 thuật ngữ đau khổ về tinh thần – “emotional distress”.
Hoặc đau đớn về tinh thần – “mental anguish” và tổn thất về tinh thần – “mental distress” cũng được sử giới 4 thiệu trong phần Restatement second of Torts của từ điển Black’s Law Dictionary. Bên cạnh đó, trong từ điển Dictionnaire de Droit International Public (Từ điển về Luật Quốc tế công – Công pháp quốc tế) cũng có định nghĩa về thiệt hại về tinh thần – “Dommage moral” như sau: “thiệt hại này được hiểu rằng, trong trường 1Renee Holmes (2004), “Mental distress damages for breach of contract”, Victoria University of Wellington Law Review, Vol.org/nz/journals/VUWLawRw/2004/27.html#fn14, truy cập ngày 13/5/2021. 2 Lê Minh Hùng (2019), Sách tình huống – Pháp luật Hợp đồng và Bồi thường thiệt hại về hợp đồng (Bình luận bản án), Nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam: Tại Chương IV – Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ, tr.
3 Amy Hackney Blackwell (2008), The Essential Law Dictionary, Sphinx® Publishing, tr. 4 Võ Thị Oanh (Trưởng nhóm), Phan Thị Trúc Phương, Lê Thị Thảo, Bạch Thủy Tiên (2017), Bồi thường tổn thất tinh thần do vi phạm hợp đồng theo pháp luật một số quốc gia trên thế giới – Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, Công trình nghiên cứu khoa học sinh viên cấp trường, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, tr. 13 hợp có một sự kiện xảy ra thì có thể dẫn đến một khả năng BTTH cho những người liên quan về vấn đề bồi hoàn các tổn thương (đau khổ) tinh thần được chứng 5 minh”.
Theo khoản 2 Điều 7.2 PICC: “thiệt hại có thể là phi tiền tệ và bắt nguồn đặc biệt từ nỗi đau thể chất hoặc tinh thần”. Thiệt hại về tinh thần được đề cập tại khoản 2 6 Điều 7.2 PICC có thể bao gồm những “căng thẳng, áp lực về tinh thần” , hoặc “đó có thể là nỗi đau về thể xác và tinh thần, tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, thiệt hại về hình 7 thể,… cũng như những xúc phạm đến danh dự hoặc uy tín”. Ngoài ra, PECL cũng thừa nhận thiệt hại về tinh thần quy định tại khoản 2 Điều 9:501 PECL “thiệt hại có thể được bồi thường bao gồm những tổn thất phi tiền tệ; và tổn thất trong tương lai có thể xảy ra một cách hợp lý”. Theo đó, “thiệt hại có thể được bồi thường không giới hạn ở những mất mát tài chính mà có thể là tổn thất về tinh thần - đau đớn, bất tiện, bất an 8 tâm lý - phát sinh từ việc không thực hiện đúng hợp đồng”.
Với quy định tại PICC và PECL, có thể hiểu rằng, thiệt hại về tinh thần là những đau khổ do nỗi đau về thể xác và tinh thần; do những căng thẳng và áp lực tinh thần; do những đau đớn, bất tiện, bất an về tâm lý phát sinh từ việc không thực hiện đúng hợp đồng. Tại Việt Nam, trong từ điển pháp lý, nhiều tài liệu sử dụng cả thuật ngữ “thiệt 9 hại về tinh thần” và “tổn thất (về) tinh thần”. Có quan điểm cho rằng, các nhà làm luật chỉ sử dụng “tổn thất về tinh thần” mà không dùng thuật ngữ “thiệt hại về tinh 10 thần”. Trên thực tế, BLDS năm 2005 tại khoản 1,3 Điều 307 sử dụng thuật ngữ “tổn thất về tinh thần” nhưng khoản 3 lại quy định “người gây thiệt hại về tinh thần cho người khác”.
Và đến BLDS năm 2015, tại khoản 3 Điều 361, Bộ luật đã quy định rằng: 5“Le dommage comprend, s’il y a lieu, une indemnité pour les personnes lésées, à titre de réparation de souffrances morales qu’elles ont éprouvées”, xem Jean Salmon (2001), Dictionnaire de Droit international public (Từ điển về Luật Quốc tế công), Bruyant, Bruxelles, tr. 6 Ghafour Khoeini, Ghader Sheneivar (2016), “Comparative Study of Damages by Non-performance of Obligations in UNIDROIT Principles, Islamic Jurisprudence and Iranian Laws”, Mediterranean Journal of Social Sciences, Vol. 7 Cao Ngọc Sơn (2020), “Xác định thiệt hại được bồi thường do vi phạm hợp đồng theo quy định của Bộ Luật Dân sự 2015”, Tạp chí Công thương, https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/xac-dinh-thiet-hai-duoc-boi- thuong-do-vi-pham-hop-dong-theo-quy-dinh-cua-bo-luat-dan-su-2015-74835.htm, truy cập ngày 17/5/2021. 8 Cao Ngọc Sơn, tlđd (7).
9 Lê Thị Tuyết Hà (2016), Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thương mại ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội, tr. 64, 135; Bùi Thị Thanh Hằng (2018), Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 10 Võ Thị Oanh (Trưởng nhóm), Phan Thị Trúc Phương, Lê Thị Thảo, Bạch Thủy Tiên, tlđd (4), tr. Thiệt hại về tinh thần là tổn thất về tinh thần do bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các lợi ích nhân thân khác của một chủ thể.” Trong trường hợp này, “thiệt hại về tinh thần” có nội hàm hẹp hơn “tổn thất về tinh thần”.
“Thiệt hại” này phải được xác định dựa trên các căn cứ gây ra “tổn thất”, nghĩa là nếu một “tổn thất về tinh thần” tồn tại trên thực tế thì cũng chưa đủ căn cứ để xem đó là “thiệt hại về tinh thần” mà phải dựa trên nguyên nhân hình thành nên “tổn thất về tinh thần” đó có phải xuất phát từ “tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các lợi ích nhân thân khác của một chủ thể” “ bị xâm phạm” hay không. Do đó, để bảo đảm chính xác về mặt ngôn từ, “thiệt hại về tinh thần” được người viết sử dụng trong bài Luận văn này như một loại trách nhiệm pháp lý. Đối với Luật hợp đồng trong pháp luật dân sự Việt Nam, trách nhiệm BTTH về tinh thần do vi phạm hợp đồng có nhiều luận giải khác nhau. Từ giai đoạn BLDS năm 1995 tại khoản 3 Điều 310 đến giai đoạn BLDS năm 2005 tại khoản 3 Điều 307, trách nhiệm BTTH về tinh thần được đặt ra đối với “người gây thiệt hại về tinh thần cho người khác” mà “xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó”.
Và đến BLDS năm 2015, khoản 3 Điều 361 không quy định về trách nhiệm BTTH của “người gây ra thiệt hại về tinh thần” như hai Bộ luật trước đó, mà đưa ra định nghĩa đối với thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần, cụ thể “thiệt hại về tinh thần là tổn thất về tinh thần do bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các lợi ích nhân thân khác của một chủ thể.” Quy định tại khoản 3 Điều 361 BLDS năm 2015 đòi hỏi sự “xâm phạm”. Trong khi đó, Điều 419 BLDS năm 2015 chỉ đòi hỏi “vi phạm”. Trên cơ sở những phân tích trên, người viết đưa ra khái niệm thiệt hại về tinh thần do vi phạm hợp đồng như sau: Thiệt hại về tinh thần do vi phạm hợp đồng là những tổn thất về tinh thần do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra đối với thể xác, tinh thần và các lợi ích khác của bên bị vi phạm. Đặc điểm thiệt hại về tinh thần do vi phạm hợp đồng Dưới góc nhìn cảm quan, mọi người thường nhận định rằng, thiệt hại về tinh thần mang tính định tính, khó xác định hoặc đo lường bằng một hệ số cụ thể.
Tuy nhiên, về mặt pháp lý, thiệt hại về tinh thần có những đặc điểm nhất định như sau: Thứ nhất, về mặt định nghĩa, thiệt hại về tinh thần đã được định nghĩa tại khoản 3 Điều 361 BLDS 2015. Ngoài ra, theo Từ điển tiếng Việt, “tổn thất” là 15 “mất mát, thiệt hại”, “tinh thần” là “tổng thể nói chung những ý nghĩ, tình cảm, v., 11 những hoạt động thuộc về đời sống nội tâm của con người”. Thật ra, không có định nghĩa duy nhất cho khái niệm “tổn thất về tinh thần”. Có nhiều định nghĩa cho “tổn thất về tinh thần” trong nhiều từ điển pháp lý đối với từng lĩnh vực khác nhau.
Cụ thể, một định nghĩa trong Luật Quốc tế đã được đề cập trong bài viết. Ngoài ra, có nhiều định nghĩa liên quan đến đến thiệt hại tinh thần trong từ điển pháp lý ngoại văn, “đau khổ về tinh thần là đau khổ tột độ, lo lắng và bất kỳ nỗi đau tinh thần nào khác đủ lớn để BTTH cho nạn nhân”, “đau đớn và đau khổ là sự đau khổ hoặc tổn thương về thể chất và tinh thần, mà thiệt hại có thể được BTTH ngoài hợp đồng”, “đau khổ về cảm xúc là đau khổ nặng nề về tinh thần và cảm xúc do hành vi ”12 của người khác. Các định nghĩa về tinh thần, về cảm xúc như trên chủ yếu được áp dụng đối với cá nhân. Từ đó, có thể hiểu rằng, tổn thất về tinh thần là những nỗi đau đớn về tinh thần và cảm xúc do hành vi vi phạm của người khác gây ra.
Bên cạnh đó, để làm rõ hơn thiệt hại về tinh thần, Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân (TAND) Tối cao ngày 08/7/2006, Hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS năm 2005 về BTTH ngoài hợp đồng tại mục 1.1 có diễn giải đối với thiệt hại về tinh thần của cá nhân và pháp nhân có thể được áp dụng một cách linh hoạt để xác định thiệt hại về tinh thần do vi phạm hợp đồng: “Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân được hiểu là do sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng bị xâm phạm mà người thân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mất uy tín, bị bạn bè xa lánh do bị hiểu nhầm và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà họ phải chịu.