phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tham khảo, kết cấu của khóa luận bao gồm 3 chƣơng chính: Chƣơng 1: Vi phạm hợp đồng và trách nhiệm dân sự của vi phạm hợp đồng Chƣơng 2: Bồi thƣờng thiệt hại và phạt vi phạm trong pháp luật về hợp đồng Chƣơng 3: Một số vƣớng mắc và kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam 5 CHƢƠNG 1: VI PHẠM HỢP ĐỒNG VÀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA VI PHẠM HỢP ĐỒNG 1. Vi phạm hợp đồng 1. Cơ sở lý luận về hợp đồng và hiệu lực bắt buộc của hợp đồng 1. Tổng quan về hợp đồng Nhà triết học Aristotle đã cho rằng, con ngƣời “là cá nhân khi đứng biệt lập, không thể tự cung tự cấp; và do đó anh ta phải là một bộ phận trong mối quan hệ với cái tổng thể1”.
Một cá nhân không thể đứng độc lập và tự mình tồn tại, tạo ra mọi của cải vật chất đáp ứng nhu cầu của bản thân. Mà cần sự trao đổi giữa ngƣời này với ngƣời kia, con ngƣời bằng ý chí và hành vi của mình có thể chuyển giao cho nhau những lợi ích vật chất để thỏa mãn nhu cầu trong cuộc sống. Quan hệ này có thể đƣợc gọi là hợp đồng. Có rất nhiều định nghĩa về hợp đồng, tùy vào từng hệ thống pháp luật hay tùy vào từng quy định riêng ở pháp luật của mỗi quốc gia sẽ đề cập tới các khái niệm khác nhau.
Thuật ngữ hợp đồng có nguồn gốc từ một từ tiếng La-tinh là “contractus”, phát sinh từ động từ “contrahere”, có nghĩa là ràng buộc… Xuất phát từ thuật ngữ contractus, từ hợp đồng trong tiếng Anh có tên gọi contract, trong tiếng Pháp có tên gọi contrat. 2 Có thể thấy rằng từ thời cổ đại, ngƣời La Mã đã định nghĩa đƣợc khái niệm về Hợp đồng và nội dung của nó, đồng thời gây ảnh hƣởng đến chế định hợp đồng của các quốc gia khác về sau này. Theo Nguyễn Ngọc Khánh, tại Việt Nam, thuật ngữ khế ước3 xuất hiện lần đầu trong Bộ Dân luật giản yếu Nam Kỳ (1883), Bộ Dân luật Bắc kỳ (1931) và Bộ Dân luật Trung kỳ (1936)4. 1 Aristotle, Chính trị học, Nông Duy Trường dịch, NXB Thế giới , tr.
22 Nguyễn Ngọc Khánh (2006), Hợp đồng: Thuật ngữ và khái niệm, Tạp chí nhà nƣớc và pháp luật số 08/2006, tr. 3 Vào những năm 60 của thế kỷ XX, sau chỉ thị số 772 – CT/ TATC của Tòa án nhân dân tối cao đƣợc thay thế bằng thuật ngữ “hợp đồng”. 4 Nguyễn Ngọc Khánh, tlđd, tr. 6 Theo từ điển Luật học Black (Black’s Law Dictionary), hợp đồng là “một sự thỏa thuận giữa hai hoặc nhiều ngƣời mà tạo lập nên các nghĩa vụ có thể thi hành, hay đƣợc pháp luật công nhận.5” Trong sách của Ryan & Fergus định nghĩa “hợp đồng là một văn bản ràng buộc pháp lý giữa ít nhất hai bên mà xác định và điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các bên đối với một thỏa thuận6.” Điều 1101 Bộ luật Dân sự Pháp quy định “hợp đồng là sự nhất trí giữa hai hoặc nhiều ngƣời nhằm tạo lập, sửa đổi, chuyển giao hoặc chấm dứt các nghĩa vụ.” Còn Điều 358 Bộ luật Dân sự Việt Nam 2015 quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.” Nhƣ vậy, dù cho có khác nhau về định nghĩa, hợp đồng vẫn đƣợc công nhận là một hành vi làm phát sinh hệ quả pháp lý thông qua sự thống nhất về ý chí.
Từ đó một lần nữa khẳng định bản chất của hợp đồng bao gồm sự thống nhất ý chí của các bên và hệ quả pháp lý trong trƣờng hợp không thực hiện thỏa thuận đã đề ra. Các đặc điểm hình thành hợp đồng Một hợp đồng đƣợc hình thành và có hiệu lực ràng buộc các bên cần tuân thủ các quy định của luật về mặt ý chí đƣợc thống nhất, chủ thể giao kết đƣợc đảm bảo, đối tƣợng của hợp đồng có thể thực hiện đƣợc, và không vi phạm về hình thức. Thứ nhất, hợp đồng hình thành dựa trên sự thống nhất về ý chí của các bên. Theo Vũ Văn Mẫu, một hành vi muốn có giá trị pháp luật cần hội tụ các điều kiện trong đó có việc “phải có một ý chí và ý chí đó phải hữu hiệu”.
Ý chí này không đƣợc gây nhầm lẫn, gian dối hoặc bị cƣỡng ép. Các ý này cũng phù hợp với nguyên tắc cơ bản của luật dân sự quy định tại Điều 3 BLDS 2015. Trƣớc tiên để các bên có thể thống nhất về ý chí thì cần có một đề nghị giao kết hợp đồng. Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã đƣợc xác 5 Black’s Law Dictionary, West Thomson Business, p.
6 Ryan - Fergus (2006), Round Hall nutshells Contract Law, Thomson Round Hall, p. 1 7 định hoặc tới công chúng7. Để đạt đƣợc sự thống nhất ý chí, cần phải có một sự đồng ý từ ngƣời nhận đề nghị giao kết. Sự đồng ý này cần hiểu rõ là sự tán thành cuối cùng và không đi kèm thêm điều kiện gì.
Nếu có một lời đề nghị ngƣợc lại hay thƣơng lƣợng lại thì hợp đồng chƣa đƣợc hình thành, thay vào đó, đây là một lời đề nghị mới8. Sự thống nhất về ý chí cần có nền tảng của sự tự nguyện giao kết hợp đồng. Việc tự nguyện giao kết đƣợc hiểu rằng một ngƣời sẽ không bị ép buộc và không phải phải làm những việc mà ngoài ý muốn của họ. Nếu một ngƣời không muốn giao kết hợp đồng và bị ép buộc để thống nhất về mặt ý chí, sự tự nguyện là một rào cản khiến cho hợp đồng đó không có hiệu lực.
Thứ hai, chủ thể giao kết hợp đồng cần thỏa mãn năng lực hành vi, hay theo cách nói của Vũ Văn Mẫu là “phải có đủ năng lực ký kết”. Tùy từng quốc gia quy định sự đầy đủ về năng lực hành vi của chủ thể, nhƣng để hợp đồng đƣợc giao kết và có hiệu lực thì các quy định này cần đƣợc đảm bảo, tại Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ. Khi năng lực hành vi của ngƣời giao kết hợp đồng đƣợc đảm bảo, quyền và nghĩa vụ của các bên từ khi thống nhất mới đƣợc hoàn chỉnh và phát sinh hiệu lực. Thứ ba, đối tƣợng của hợp đồng có thể thực hiện đƣợc.
Khi giao kết hợp đồng, các bên tạo ra các quyền (lợi ích) cho mình và các nghĩa vụ cho bên còn lại, nói cách khác, đây là hành vi có chủ đích9. Do đó, các quyền và nghĩa vụ này là đối tƣợng của hợp đồng và là những gì các bên đƣợc hƣởng hoặc sẽ phải thực hiện. Các đối tƣợng này không đƣợc vi phạm vào các điều cấm của luật, đạo đức xã hội, không “trái với trật tự công cộng và thuần phong mỹ tục”. Một khi đối tƣợng của hợp đồng không hợp pháp, các điều kiện về thống nhất của ý chí và chủ thể hợp đồng ngay lập tức bị loại bỏ, hợp đồng đó sẽ không có hiệu lực pháp lý.
7 Khoản 1 Điều 386 BLDS 2015. 9 Vũ Văn mẫu (1961), Dân luật khái luận, Bộ quốc gia giáo dục xuất bản Sài Gòn, tr. 8 Thứ tư, cần đảm bảo hình thức của hợp đồng. Các yêu cầu của nhà làm luật bắt buộc các chứng thƣ phải làm theo một thể thức nhất định là các ngoại lệ của việc tự do ý chí.
Theo yêu cầu đó, nhà làm luật cho rằng riêng ý chí thì chƣa đƣợc coi là có hiệu lực để ràng buộc các đƣơng sự trƣớc pháp luật10. “Các hình thức này theo kiểu hình thức chủ nghĩa có thể đƣợc chia làm bốn điểm (1) Các hình thức trọng thể đƣợc ấn định cho một số hành vi quan trọng, cốt để các đƣơng sự chú trọng đặc biệt việc mình sắp làm; (2) Các hình thức chứng cứ để dẫn chứng trƣớc pháp luật (luật tố tụng trong trƣờng hợp này chỉ chấp nhận hai cách dẫn chứng: “chứng thƣ hợp đồng” và “sự thú nhận của đƣơng sự”); (3) Các hình thức cấp-tƣ-năng nhằm đảm bảo quyền định đoạt của những ngƣời chƣa hoàn toàn có tƣ cách chủ thể độc lập để tự mình xác lập các giao dịch dân sự (ví dụ ngƣời chƣa thành niên từ đủ 15 tuổi đến dƣới 18 tuổi khi xác lập, thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản của mình); (4) Các hình thức công bố trong trƣờng hợp có liên quan đến ngƣời thứ ba11” Tại Việt Nam, một số hợp đồng cụ thể cần đƣợc lập thành văn bản. Mặc dù các bên có sự tự do về ý chí để lựa chọn hình thức hợp đồng nhƣng để đảm bảo tính pháp lý, luật pháp đã đặt ra giới hạn việc thể hiện ý chí của các bên đƣợc phù hợp. Cơ sở ràng buộc hiệu lực của hợp đồng Về hiệu lực bắt buộc của hợp đồng, PGS.TS Nguyễn Ngọc Điện cho rằng: “Hợp đồng phải đƣợc thực hiện đúng và đủ.
Hợp đồng đƣợc giao kết hợp pháp có hiệu lực bắt buộc đối với các bên giao kết” và nó thậm chí còn cao hơn luật bổ khuyết 12. Để giải thích cho căn nguyên này, theo giáo sƣ Vũ Văn Mẫu, có 3 lý do chính để thúc đẩy hiệu lực của nghĩa vụ, bao gồm nguyên tắc về tự do ý chí của cá nhân, lời hứa phải đƣợc thực hiện (Pacta sunt servanda) và để giữ sự ổn định, niềm tin trong các mối quan hệ giao thƣơng13. 12 Nguyễn Ngọc Điện, Giáo trình luật dân sự, tập II, NXB Khoa Luật, trƣờng Đại học mở TPHCM, tr. 13 Vũ Văn Mẫu (1963), Nghĩa vụ và khế ước, Việt nam Dân luật lược khảo, Quyển II, Bộ 9 Thứ nhất, về nguyên tắc tự do ý chí của cá nhân trong hiệu lực thúc đẩy nghĩa vụ thực hiện hợp đồng.
Tự do ý chí là nền tảng tạo nên quan hệ hợp đồng. Không có tự do ý chí không thể hình thành quan hệ hợp đồng và ngƣợc lại, “tự do ý chí có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ nhằm biến các dự định hoặc kế hoạch trở thành hiện thực”14. Có nhiều định nghĩa về tự do ý chí, nhƣng chung quy có thể hiểu nguyên tắc tự do ý chí trong pháp luật về hợp đồng “là các bên đƣợc tự do giao kết hợp đồng hay thỏa thuận về việc xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự theo ý chí của mình miễn là nó không trái với trật tự công cộng”15. Ngƣời ta biết đến hợp đồng nhƣ một sự thỏa thuận giữa hai bên, khi đi tới sự thống nhất với nhau trên cơ sở quyền tự do ý chí của những ngƣời tham gia quan hệ hợp đồng.