CHƯƠNG 1 NHŨNG VẤN ĐÈ LÝ LUẬN • VÈ BỒI THƯỜNG THIỆT • HẠI • DO ĐẠI • DIỆN VƯỢT QUÁ PHẠM VI ỦY QUYÊN 1. Một số vấn đề lý luận về đại diện 1. Khái niệm • • diện đại • Chế định đại diện không phải chỉ mới xuất hiện trong những năm gần đây mà nó đã tồn tại từ thời kỳ La Mã - thời kỳ đầu tiên pháp luật xuất hiện mà con người biết đến và được ghi lại. Tuy nhiên, vào thời kỳ đó, đại diện không được ghi nhận thành một chế định cụ thể và rõ ràng như hiện nay mà nó xuất hiện rải rác trong những quy định khác.
Trong thời kỳ La Mã, người chủ gia đình là người có quyền hành tối cao, họ là người đại diện cho các thành viên trong gia đình trong quan hệ đối ngoại. Trong những thế kỷ đầu của lịch sử La Mã, kiểu hôn nhân cum manu xuất hiện, người vợ được đặt dưới thẩm quyền của chồng, nếu người này có năng lực pháp luật (sui juris), hoặc của cha chồng trong trường hợp ngược lại. Vào giai đoạn cuối của nền cộng hòa, hôn nhân sine manu xuất hiện, lúc này, người vợ không đặt dưới thẩm quyền của người chồng. Người vợ vẫn không có năng lực, song người đại diện cho người vợ là cha ruột của mình.
Neu người vợ không còn cha thì vẫn hoàn toàn độc lập với chồng, có năng lực pháp luật riêng và có tài sản riêng [10].TS Ngô Huy Cương: “Trước kia luật La Mã không chấp nhận vấn đề đại diện do tính trọng hình thức của Họp đồng, vì vậy gây khó khăn lớn cho các giao dịch. Ớ thời kỳ này, người chù gia đình (paterfamilias) có thể giao kết hợp đồng thông qua người trong gia đình và cũng có thể giao kết hợp đồng thông qua người ngoài gia đình trong những điều kiện nhất định”. Người trong gia đình có thể đại diện hoàn hảo cho người chủ gia đình đối với những hợp đồng mà người chữ gia đình trở thành trái chủ, nhưng 9 không thê làm cho người chủ gia đình trở thành người thụ trái bởi thi hành một nguyên tắc alìenỉ juri không thể làm cho tình trạng của chủ xấu đi, trừ khi đối với những hợp đồng giao vật. Đối với việc giao kết hợp đồng thông qua người ngoài gia đình dù với tư cách trái chù hay người thụ trái (ví dụ trong hợp đồng mua bán) thì người chủ gia đình không thể kiện trực tiếp người thứ ba giao kết hợp đồng với người thụ ủy, tuy nhiên có thể có tố quyền do pháp quan ban cho để đòi người thứ ba thi hành nghĩa vụ.
Giải thích vấn đề này trong luật La Mã, và giải thích sự khác nhau giữa truyền thống Common Law và truyền thống Civil Law về vấn đề này, Konrad Zweigert và Hein Koetz cho rằng, người chủ gia đình thủ đắc mọi quyền sở hữu mọi thứ do nô lệ và người trong gia đình có được từ người thứ ba, bởi trong xã hội La Mã lúc bấy giờ, người này chỉ được xem như cánh tay nối dài của chủ gia đình chứ không phải bởi chủ gia đình ủy quyền cho họ. Có lẽ vì vậy, Luật La Mã không có khái niệm đại diện hoàn hão (agency) như ở các nước theo truyền thống Common Law.” [6] Hệ thống pháp luật Civil law - một trong nhũng hệ thống pháp luật lớn nhất trên thế giới (phát triển mạnh mẽ ở một số nước châu Âu lục địa như Pháp, Đức và các nước thuộc địa của Pháp, Đức) cũng có nguồn gốc từ Luật La Mã thời xưa. Ngày nay, pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều chú trọng phát triến quan hệ đại diện và xây dựng nó như một chế định trung tâm. Pháp luật của mồi quốc gia lại có một cách hiểu khác nhau về đại diện.Thuật ngữ “đại diện” ở Mỹ dùng để chỉ hành động của một người thông qua một chủ thể khác được pháp luật coi là hành động của chính người đó [12].
Luật dân sự của Nhật Bản lại quy định về đại diện như sau: Sự biểu lộ ý chí bởi người đại diện thề được lập ra nhân danh người được đại diện trong phạm vi thấm quyền của người đại diện ràng buộc người được đại diện [35, art. 10 Theo từ điên Tiêng Việt của Viện ngôn ngữ học, “đại diện” có nghĩa là “thay mặt cho cá nhân hoặc tập thế”. Thuật ngữ pháp lý “đại diện” được quy định tại Điều 134 BLDS Việt Nam hiện hành như sau: “Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhãn danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự." Qua những quy định và những thuật ngữ pháp lý của một số quốc gia về đại diện, có thế hiếu rằng, Đại điện là việc cá nhân hay pháp nhân nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch. • điểm của quan 1.
Đặc 1 hệ• đại • diện • Đặc điểm của chế định đại diện thể ở mối quan hệ của người đại diện, người được đại diện và bên thứ ba trong quan hệ đại diện. Đặc điểm của quan hệ đại diện thể hiện ở các điểm sau: Thứ nhất, người đại diện hành động nhân danh người được đại diện. Người đại diện là người nhân danh người được đại diện xác lập quan hệ với người thứ ba, vì lợi ích của người đại diện. Tuy nhiên, người được đại diện lại là người phải tiếp nhận các hậu quả pháp lý từ quan hệ đại diện do người đại diện xác lập, thực hiện trong thấm quyền đại diện.
Thứ hai, người đại diện hành động trong phạm vi đại diện. Mối quan hệ đại diện chỉ được xác lập trong một phạm vi cụ thề và trong một thời hạn nhất định. Không có bất kỳ một quan hệ đại diện nào là vĩnh viễn và bị thay thế hoàn toàn bởi người đại diện. Mọi sự ủy thác đều bị giới hạn về mặt phạm vi và thời gian nhằm tạo ra một ranh giới giúp người được đại diện kiểm soát được khối lượng công việc mà người đại diện nhân danh mình đế thực hiện, đồng thời cũng là ranh giới để xác định trách nhiệm của từng chủ thể trong quan hệ này.
11 Hai đặc điêm kê trên là những đặc điêm chung nhât của chê định đại diện trong đời sống dân sự ở Việt Nam nhằm phân biệt nó với những chế định khác. Mỗi quốc gia và hệ thống pháp luật khác nhau lại có những đặc điểm khác nhau về quan hệ đại diện nhưng không nằm ngoài những yếu tố về mối quan hệ giữa người đại diện, người được đại diện và người thứ ba trong quan hệ đại diện. • hình thành quan 1. Điều kiện > • diện hệ• đại • Quan hệ đại diện muốn được xác lập và hình thành thì phải đáp ứng một số điều kiện cần mà pháp luật quy định về chủ thể đại diện (1) và hành vi đại diện (2).
(1) về chủ thể đại diện, người được đại diện có thế là cá nhân không có năng lực hành vi, chưa đủ năng lực hành vi nên theo quy định của pháp luật phải có người đại diện trong quan hệ pháp luật. Cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi có thể ủy quyền cho người khác là đại diện theo ủy quyền của mình. Pháp nhân hoạt động thông qua hành vi của những người nhất định có thẩm quyền đại diện cho chù thể đó. (2) về nội dung đại diện, công việc đại diện phải thực hiện được thông qua việc đại diện và không bị pháp luật cấm.
Trên thực tế không phải lúc nào và bất kể trường hợp nào cũng có thể ùy quyền cho người khác thực hiện công việc thay mình được, có một số trường hợp bắt buộc chính cá nhân hay tổ chức phải là người đứng ra thực hiện công việc, chịu trách nhiệm về công việc liên quan đến nhân thân như: đăng ký kết hôn "khi đãng ký kết hôn, hai bên nam, nữ phái có mặt" [3]; ly hôn "Đổi với việc ly hôn, đương sự không được ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng [19, đ.85(4)]”; công chứng di chúc của mình "Người lập di chúc phải tự mình yêu cầu công chứng di chúc, không ủy quyền cho người khác yêu cầu công chứng di chúc" [22, đ.56(l)]; quyền và lọi ích của người ủy quyền đối lập với người được 12 ủy quyên trong cùng một vụ việc [19, đ.87 (1)]; và một sô trường hợp khác liên quan đến thẩm quyền giải quyết của người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức như: “Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra không được ủy quyền cho Điều tra viên thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình"', UBND cấp tỉnh, cấp huyện có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất không được ủy quyền [23, đ.59 (4)]; Chủ tịch và thành viên Hội đồng quản trị tổ chức tín dụng là công ty TNHH hai thành viên trở lên không được ủy quyền cho những người không phải là thành viên Hội đồng quản trị thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình [21 ,đ.81 (5)]; Cơ quan được giao ban hành văn bản quy định chi tiết không được ủy quyền tiếp [20, đ.l 1(2)]; Cơ quan, tổ chức hành chính nhà nước ở địa phương nhận ủy quyền không được ủy quyền tiếp cho cơ quan, tổ chức khác thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn đã được cơ quan hành chính nhà nước cấp trên ủy quyền [27, đ.14]; Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ trưởng Bộ Công Thương, Chủ tịch UBND cấp tỉnh không được ủy quyền quyết định trưng mua tài sản [29, đ. 14(3)]; Chủ đầu tư dự án kinh doanh bất động sản không được ủy quyền cho bên tham gia họp tác đầu tư, liên doanh, liên kết, hợp tác kinh doanh hoặc góp vốn thực hiện kỷ hợp đồng mua bán, chuyển nhượng, cho thuê mua bất động sản [26, đ.13 (5)]; Người bị chất vấn không được ủy quyền cho người khác trả lời thay mình tại kỳ họp Quốc hội, ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng nhân dân và Thường trực Hội đồng nhân dân [24, đ. Phân loại • diện • Căn cứ vào nguồn gốc hình thành, đại diện được chia thành hai loại: (1) ý chí của người xác lập quan hệ đại diện và (2) quy định của pháp luật. 13 Quan hệ đại diện được xác lập dựa trên căn cứ thứ (1) được gọi là đại diện theo ủy quyền.