Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BỒI DƯỠNG VIÊN CHỨC TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Bồi dưỡng Theo từ điển tiếng Việt, bồi dưỡng là công việc nâng cao năng lực, phẩm chất của con người.
Bồi dưỡng là quá trình cập nhật những kiến thức còn thiếu hoặc lỗi thời, bổ sung chuyên môn, phát huy hoặc nâng cao chuyên môn. Mục đích của các hoạt động này là tạo ra các điều kiện cho người lao động có thể được mở rộng một cách có hệ thống, tích hợp chuyên môn và kỹ năng hiện có để họ có thể làm việc hiệu quả hơn. (Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân) Bồi dưỡng là trang bị, đổi mới và cung cấp kiến thức, kỹ năng làm việc cho viên chức. (Khoản 2, Điều 5 Quyết định 273/QĐ-BTP năm 2018) Quyền của viên chức trong hoạt động nghề nghiệp và quy định viên chức phải được bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ.
Bồi dưỡng viên chức áp dụng đối với viên chức trước khi được bổ nhiệm vào các vị trí quản lý, trước khi thay đổi chức danh nghề nghiệp hoặc để bổ sung, cập nhật những kiến thức, kỹ năng hữu ích trong lĩnh vực công vụ, cập nhật những kiến thức, kỹ năng có ích cho hoạt động chuyên môn. (Luật Viên chức 2010) “ Mục tiêu của việc bồi dưỡng viên chức là trang bị những kiến thức, kỹ năng và phương pháp thực hiện nhiệm vụ trong hoạt động nghề nghiệp, góp phần xây dựng đội ngũ viên chức chuyên nghiệp, có nhiều kinh nghiệm làm việc thực tế. Vì vậy, bồi dưỡng viên chức có vai trò cập nhật, nâng cao kiến thức, củng cố kỹ năng của viên chức nhằm nâng cao khả năng làm việc, đáp ứng được yêu cầu của vị trí việc làm. (Theo điều 2, Nghị định 101/2017/NĐ-CP) “Như vậy, theo quan niệm tác giả luận văn : “ bồi dưỡng được hiểu là quá trình cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp và cung cấp cho con 12 người những kiến thức mới, cập nhật thông qua thực hành dựa trên những kiến thức, kỹ năng đã lĩnh hội được”.
Viên chức trường đại học “Từ khi Hiến pháp năm 1959 ra đời, thuật ngữ “viên chức” đã bắt đầu được sử dụng nhưng chỉ xuất hiện trong một vài quy định như vấn đề thời gian nghỉ ngơi của công nhân và viên chức. Năm 1963, Hội đồng Chính phủ ban hành “Điều lệ tuyển dụng và thôi việc đối với công nhân, viên chức Nhà nước”. Kể từ đây thuật ngữ ‘viên chức” đã được sử dụng rộng rãi hơn. Đến Hiến pháp năm 1980, thuật ngữ “viên chức” được sử dụng nhiều hơn so với Hiến pháp năm 1959 nhưng lại có sự kết hợp với thuật ngữ “công nhân” thành “công nhân và viên chức”.” Trước khi Luật Viên chức năm 2010 ra đời, các văn bản pháp luật cũng chưa quy định cụ thể những người làm việc trong cơ quan Nhà nước và doanh nghiệp thuộc Nhà nước, người nào là viên chức hoặc công chức.
Luật Viên chức năm 2010 ra đời đã đánh dấu mốc quan trọng để tạo ra những quy định cụ thể cho những người làm trong các đơn vị sự nghiệp công lập. Theo đó, Luật Viên chức năm 2010 đã quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ, những việc không được làm của viên chức; tuyển dụng và sử dụng viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập. Có thể thấy rằng việc xây dựng riêng quy chế, pháp lý để điều chỉnh viên chức với cán bộ, viên chức đã giúp cho chúng ta có sự phân biệt được rõ ràng hơn giữa viên chức và cán bộ, viên chức được thể hiện rõ nhất ở Điều 2 Luật Viên chức năm 2010. Theo đó, viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng và sử dụng theo vị trí việc làm tại các đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ hoặc chưa giao quyền tự chủ về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự và thực hiện dưới chế độ hợp đồng làm việc.
Năm 2019, Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và viên. Tuy nhiên, khái niệm viên chức vẫn được giữ nguyên mà không có sự thay đổi.” 13 Nhân lực giảng viên, nhà nghiên cứu trong các trường đại học là lực lượng lao động quan trọng nhất, trực tiếp quyết định chất lượng của trường đại học. Còn quyết định sự thành công, sự tồn tại và thịnh vượng của trường đại học. Theo pháp luật hiện hành của Việt Nam, người làm việc tại các trường đại học bao gồm viên chức và người lao động hợp đồng.
Theo Điều 3 Nghị định 115 (2020) nêu 02 tiêu chí phân loại viên chức gồm: - Theo chức trách, nhiệm vụ: Viên chức quản lý và viên chức không giữ chức vụ quản lý; - Theo trình độ bồi dưỡng: Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp có yêu cầu trình độ bồi dưỡng tiến sĩ, thạc sĩ, đại học, cao đẳng và trung cấp. So với 02 tiêu chí trước đây là vị trí việc làm và chức danh nghề nghiệp tại Nghị định 29/2012/NĐ-CP, thông qua Nghị định 115 (2020) này, Chính phủ đã phân loại viên chức theo 02 tiêu chí mới nêu trên. Viên chức quản lý chịu sự điều chỉnh chủ yếu của pháp luật và các quy định đặc thù đối với viên chức trong các trường đại học như Luật Giáo dục, Luật Khoa học và Công nghệ, Luật Giáo dục đại học. “Những người làm chuyên môn (viên chức giảng viên, nghiên cứu viên) được xác lập bằng một hợp đồng làm việc do người đứng đầu trường đại học và người viên chức ký kết trên cơ sở kết quả tuyển dụng viên chức.
Hoạt động của đối tượng này chịu sự ràng buộc bởi pháp luật về viên chức nói chung và pháp luật chuyên ngành giáo dục và bồi dưỡng quy định về chức danh, chế độ làm việc của chức danh giảng viên và nghiên cứu viên.” Viên chức hành chính, trên cơ sở kết quả tuyển dụng viên chức theo đề án việc làm. Viên chức hành chính thực hiện, tuân thủ dưới sự điều chỉnh của pháp luật về viên chức nói chung, luật lao động và pháp luật về viên chức hành chính trong đơn vị sự nghiệp công lập.” 14 Người lao động hợp đồng như: bảo vệ, lao công, lái xe. Họ được xác lập trên cơ sở hợp đồng lao động được điều chỉnh bằng luật về lao động .” “Như vậy, theo quan niệm tác giả luận văn: “Viên chức trường đại học là công dân Việt Nam, được tuyển dụng theo vị trí việc làm và chức danh nghề nghiệp tương ứng, viên chức trường đại học bao gồm: viên chức quản lý, viên chức hành chính, viên chức giảng viên, người lao động”. Bồi dưỡng viên chức trường đại học Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân tài chính là tài sản quốc gia.
Cán bộ, viên chức làm việc trong cơ quan Nhà nước, cần phải được bồi dưỡng liên tục để có thể bắt kịp được xu hướng phát triển, riêng đối với những cán bộ, viên chức làm việc trong các tổ chức chính trị cần phải được bồi dưỡng vững vàng về chính trị, về chuyên môn để tạo ra những người tài để ra sức làm việc đất nước.” Việc bồi dưỡng viên chức có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bổ sung kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ và cập nhật những kiến thức cần thiết, kỹ năng thực thi công việc để phục vụ yêu cầu của công việc. Đảng và Nhà nước luôn quan tâm bồi dưỡng viên chức với nhiều hình thức đa dạng hơn nội dung, phương pháp đào tạo từng bước được đổi mới, kết hợp giữa học lý luận với nâng cao kỹ năng thực hành. Cụ thể hóa từ các Văn kiện Đại hội Đảng và các Nghị quyết, các cơ quan Nhà nước. Bồi dưỡng viên chức trong hệ thống các trường đại học được Đảng và Nhà nước xác định là nhiệm vụ trọng tâm thường xuyên, có ý nghĩa quan trọng.
“Khi Luật Viên chức có hiệu lực thì quy định bồi dưỡng viên chức theo hệ thống riêng và mới đây nhất là Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ra đời. Bồi dưỡng viên chức là quá trình truyền tải các kiến thức chuyên môn một cách có hệ thống làm cho viên chức có thể đạt được trình độ cao hơn, đồng thời cũng thay đổi phương thức hoạt động nghề nghiệp để phù hợp với những thay đổi để đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện nay.” 15 “Như vậy, theo quan niệm tác giả luận văn “Bồi dưỡng viên chức trường đại học được hiểu là quá trình nhằm bổ sung, tăng cường kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp, cập nhật những tri thức mới trang bị thêm cho các viên chức đang tham gia làm việc tại nhà trường”. Đặc trưng bồi dưỡng viên chức trường đại học “Công tác bồi dưỡng viên chức ở các đơn vị trường đại học gắn với chuyên môn, đáp ứng nhu cầu của xã hội, chức danh nghề nghiệp, chức năng, nhiệm vụ được thực hiện theo quy định của pháp luật, theo Điều 34 Mục 2 Luật Viên chức quy định trách nhiệm của đơn vị sự nghiệp công lập phải tạo mọi điều kiện cho viên chức được bồi dưỡng và có trách nhiệm xây dựng, tổ chức thực hiện kế hoạch bồi dưỡng đối với viên chức của đơn vị. Nhu cầu bồi dưỡng của viên chức phải xuất phát từ nhu cầu của viên chức và từ thực tiễn của đơn vị, phải gắn với mục tiêu phát triển của đơn vị mình.
Công tác bồi dưỡng viên chức phải được thực thi theo quy định của pháp luật và mức độ thực thi công vụ, phục vụ cho nhu cầu của xã hội, người dân.” “Đội ngũ viên chức trong trường đại học có nghĩa vụ, trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ trọng tâm của nền hành chính công, thực hiện theo quy định của pháp luật. Như vậy, đòi hỏi mỗi viên chức phải tự trau dồi chuyên môn, kỹ năng để đáp ứng với vị trí việc làm. Việc bồi dưỡng là một quá bổ sung một lượng kiến thức cho viên chức bằng các phương pháp giảng dạy trong một khoảng thời gian xác định. Bồi dưỡng là việc học tập ngắn hạn có mục đích là bổ sung, mở rộng kiến thức cho viên chức.
Vai trò của bồi dưỡng viên chức trường đại học “Bồi dưỡng viên chức trường đại học có vai trò rất quan trọng. Cụ thể, bồi dưỡng viên chức trường đại học nhằm đáp ứng nhu cầu vị trí việc làm, phục vụ yêu cầu bổ nhiệm chức vụ quản lý, thăng hạng chức danh nghề nghiệp hoặc cập 16 nhật kiến thức cho hoạt động nghề nghiệp. Như vậy, hoạt động bồi dưỡng viên chức phải được căn cứ vào tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, vị trí việc làm.