CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIẾP CẬN LINH HOẠT TRONG BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC NGHỀ NGHIỆP CỦA CÔNG NHÂN VẬN HÀNH THIẾT BỊ IN OFFSET TỜ RỜI 1.1 Nghiên cứu về vấn đề bồi dưỡng nghề vận hành thiết bị in offset tờ rời 1. Nghiên cứu ngoài nước - Hiệp hội Print Promotion được thành lập tại Đức từ năm 1975 nhằm cung cấp cho khách hàng của các nhà sản xuất thiết bị in Đức trên khắp thế giới các chương trình huấn luyện và bồi dưỡng về giải pháp công nghệ in bao gồm: kiến thức công nghệ, kỹ năng vận hành, kỹ năng quản lý cho đội ngũ nhân viên công ty in và các chương trình huấn luyện đặc biệt dành cho đội ngũ giáo viên ngành công nghệ in đang công tác tại các trường đại học, trung tâm đào tạo. Cho đến thời điểm hiện tại, mỗi năm hiệp hội Print Promotion vẫn tổ chức các lớp huấn luyện, các chuyên đề và các lớp e-learning giúp nâng cao năng lực chuyên môn và giới thiệu các giải pháp công nghệ để người học có thể cập nhật, áp dụng [20]. Tuy nhiên nội dung huấn luyện chủ yếu mang tính cập nhật kiến thức, kỹ năng theo những giải pháp công nghệ mới, chưa thực sự chú trọng đến nhu cầu người học.
- Năm 2009, hiệp hội in Hoa kỳ (Print Industrial of America-PIA) đưa ra chương trình đào tạo nghề vận hành máy in offset tờ rời phiên bản thứ 6 và cũng là phiên bản cải tiến nhiều nhất. Ngoài các chương trình đào tạo dành cho giáo viên huấn luyện, chương trình đào tạo dành người học nghề, còn có các lớp bồi dưỡng các kỹ năng xử lý những tình huống được đúc kết từ thực tế của các nhà in ở nước Mỹ. Các kiến thức, kỹ năng cốt lõi đáp ứng chuẩn kỹ năng nghề quốc gia của Mỹ. Bằng cấp chứng nhận của người đã tốt nghiệp các chương trình, khóa bồi dưỡng này được chấp nhận bởi tất cả các công ty in nằm trong hiệp hội in trên khắp nước Mỹ.[29] - Năm 2009, cho đến nay Trường Đại học Chualalongkorn-Thái Lan thường xuyên tổ chức các lớp chuyên đề trực tiếp tại nơi sản xuất theo đề nghị từ phía các công ty in nhằm bồi dưỡng kiến thức và năng lực cho đội ngũ công nhân, kỹ sư tại các công ty sản xuất in xuất phát từ nhu cầu mong muốn được cập nhật kiến thức công 7 nghệ và nâng cao kỹ năng vận hành thiết bị của họ.
Các chương trình này thành công về mặt nội dung và phương pháp, cách tổ chức đáp ứng linh hoạt nhu cầu người học là công nhân, kỹ sư đã có thâm niên công tác và phù hợp theo từng đặc điểm môi trường sản xuất.Wiyaratn nghiên cứu xây dựng khung kỹ năng để phục vụ cho việc huấn luyện vận hành thiết bị in offset theo nhu cầu của ngành công nghiệp in ở Thái lan. Các tác giả đã phân loại kỹ năng vận hành thiết bị in offset tờ rời của thợ in thành 4 mức độ và đề xuất được các khóa huấn luyện chung cho công nhân vận hành ở mức độ cơ bản gồm 7 chuyên đề. Hai tác giả đã nhận định việc thiết kế các chương trình học cần dựa trên nhu cầu của người học và chuẩn đầu ra. Nhận định này có thể cho thấy việc xây dựng chương trình cần có tính linh hoạt khi dựa trên nhu cầu thực tế từ ngành công nghiệp in ở Thái Lan.
Nghiên cứu trong nước - Năm 2012, dựa trên chuẩn kỹ năng nghề vận hành thiết bị in offset tờ rời của Mỹ và tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật nghề in offset ở Việt Nam, Chế Quốc Long đã nghiên cứu và đề xuất tiêu chuẩn kỹ năng thực hành theo bậc thợ nghề in offset tờ rời. Đề xuất này đã tạo cơ sở giúp cho việc đánh giá kỹ năng của người thợ in offset tờ rời trong các kỳ thi nâng bậc do các trung tâm đào tạo tổ chức mang tính khách quan hơn. Tuy nhiên nghiên cứu chưa đề xuất được giải pháp tổ chức đào tạo, bồi dưỡng bậc thợ phù hợp nằm đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ năng thực hành nghề này.[6] Hiện nay, công tác bồi dưỡng nghề in offset cho công nhân của các trung tâm đào tạo trong nước được thực hiện còn tương đối ít. Mặc dù đều có những điểm thống nhất về mặt kiến thức và thực hành song mỗi nơi cũng có sự cải tiến riêng như quan tâm cập nhật thêm những kiến thức mới mang tính thực tế nhưng chưa linh hoạt trong việc đáp ứng nhu cầu của người học và những điều kiện thực tế.
Cách tổ chức và thực hiện vẫn còn hạn chế như chỉ tập trung bồi dưỡng người học theo tiêu chí đáp ứng bộ tiêu chuẩn kỹ năng bậc thợ do Bộ Văn hóa thông tin ban hành mới năm 2008, bộ tiêu chuẩn này chỉ bao gồm những quy định chung nhất về các nghề trong ngành in: mỗi một bậc thợ quy định gồm hai mảng là biết (kiến thức) và làm (thực hành) mà không đưa ra các tiêu chí đánh giá kỹ năng thực hiện nhiệm vụ, công việc cho mỗi bậc thợ. Điều đó dẫn đến việc đánh giá bậc thợ mang tính chủ quan, phụ thuộc vào người 8 chấm thi gián tiếp ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực ngành in. Thực tế vì không có tiêu chuẩn kỹ năng thực hành nghề một cách rõ ràng đã tạo không ít khó khăn cho việc xây dựng một chương trình đào tạo, bồi dưỡng nghề in nói chung và nghề vận hành máy in offset nói riêng phù hợp với điều kiện thực tế trên toàn quốc.2 Nghiên cứu về tiếp cận linh hoạt 1.1 Nghiên cứu ngoài nước a. Nghiên cứu về tiếp cận linh hoạt trong sản xuất Ngày nay thuật ngữ linh hoạt được sử dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực và trong đời sống hằng ngày nhằm đề cập đến sự mềm dẻo, có khả năng thay đổi phù hợp với những mục đích, những điều kiện hoặc hoàn cảnh khác nhau.
Người lao động ngày nay không còn hoàn toàn bị ràng buộc bởi việc phải có mặt thường xuyên tại nơi làm việc mà thay vào đó họ có thể thực hiện công việc của mình tại nhà, ngoài phố, hay bất nơi nào khác. Bên cạnh đó người lao động không nhất thiết phải làm việc theo thời gian quy định cụ thể mà họ có quyền thỏa thuận thời gian làm việc sao cho mang lại hiệu quả tốt nhất cho công việc được giao.Về phía người sử dụng lao động,việc tuyển dụng theo khả năng tài chính, nhu cầu vị trí công việc, hình thức hợp tác đa dạng, thời gian linh hoạt nhằm đáp ứng mục tiêu công việc là một xu hướng đang rất được ưa chuộng. Những ý tưởng trên bắt nguồn từ khái niệm “ việc làm linh hoạt” (Flexible working) và “nơi làm việc linh hoạt”. [30] Hệ thống sản xuất linh hoạt (flexible mufacturing system /FMS) sử dụng thiết bị điều khiển số (Computer Numerical Controlled machines/ CNC) đầu tiên của Theo William được cấp bằng sáng chế năm 1965.
Đây là hệ thống gia công có thể tạo ra những chi tiết đa dạng tại những trạm gia công khác nhau trên một hệ thống dây chuyền được điều khiển và giám sát bởi máy tính và có thể hoạt động 24/24 giờ mà không cần người trực tiếp vận hành. Sự ra đời và ứng dụng của những hệ thống FMS giúp tạo những sản phẩm đa dạng, đảm bảo độ chuẩn xác, giảm thiểu chi phí sản xuất xuống mức thấp nhất đáp linh hoạt nhu cầu thị trường đồng thời thể hiện được sự cạnh tranh và sự hiện đại về mặt công nghệ của nhà sản xuất trong thời đại công nghiệp hóa hiện đại hóa. Nghiên cứu về tiếp cận linh hoạt trong dạy học - Năm 1986, Lewis và Spencer đã xem học tập mở (open learning) chính là các hình thức học tập được tổ chức ngoài phạm vi trường học, như: “học tại chỗ” và “học từ xa”. [3,tr 9], [7] - Năm 1999, Taylor và Joughlin vận dụng lý thuyết nhận thức linh hoạt của Spiro và Jehng (1996) để lần đầu tiên đưa ra khái niệm học tập linh hoạt (HTLH) thay thế cho khái niệm học tập mở.
Theo họ, hình thức HTLH mô tả việc học tập được xác định trên cơ sở của tiếp cận mở và tiên tiến, cho phép người học lựa chọn cách thức, xác định thời gian, địa điểm và nội dung học tập theo nhu cầu. [3,tr 9],[18, tr 52- 57] - Năm 2001, Johnston đưa ra khái niệm dạy và học theo tiếp cận linh hoạt: bao gồm những thuộc tính tâm lý giáo dục và một tập hợp những kỹ thuật dạy và học. Tiếp cận linh hoạt gia tăng mức độ kiểm soát quá trình học tập của người học về thời gian, nội dung, địa điểm, phương pháp và tiến độ học tập. Khái niệm này đồng nghĩa với cách tiếp cận trong giáo dục là lấy người học làm trung tâm và tăng cường trách nhiệm của chính bản thân của họ trong việc học.
[15,tr1] -Năm 2002, trường Đại học Queensland đã xây dựng các hướng dẫn cụ thể cho việc vận dụng “tiếp cận linh hoạt trong dạy học” theo khái niệm của Johnston, như: xác định mục tiêu, hình thức cung cấp nội dung học tập, chương trình cho các khóa học, mức độ tương tác giữa giảng viên – sinh viên và sinh viên – sinh viên, phương tiện kỹ thuật hỗ trợ, cũng như những hạn chế của tiếp cận dạy học này. Tùy theo mức độ vận dụng công nghệ thông tin vào việc cung cấp tài nguyên học tập cho người học, “tiếp cận linh hoạt trong dạyhọc” được thể hiện qua các hình thức học tập linh hoạt sau: học tập dưới sự hỗ trợ của Website, học tập phụ thuộc vào Website và học tập trực tuyến hoàn toàn. [3, tr 10], [23] -Năm 2004, từ các chính sách và chiến lược phát triển “tiếp cận linh hoạt trong dạy học” đã được trường Đại học Queensland xây dựng vào năm 2001, trường Đại học Tasmania tiến hành áp dụng thí điểm và đánh giá mức độ tác động của hình thức học tập này đối với người học và người dạy tại các khoa: Nghệ thuật, Thương mại, Giáo dục, Y tế, Luật. Trong báo cáo tổng kết của John Bottomley and Jocelyn Calvert (2005) cũng đã khẳng định những lợi ích mà hình thức học tập linh hoạt mang lại.
Từ 10 kết quả tổng kết và rút kinh nghiệm của trường Đại học Tasmania, dạy học linh hoạt đã được các trường đại học ở Úc, New Zealand xem xét áp dụng.2 Nghiên cứu trong nước Hiện nay, ở nước ta hình thức học tập linh hoạt được thực hiện thông qua chương trình đào tạo từ xa, người học có thể học tập trực tuyến qua hệ thống mạng máy tính (e- learning), các chương trình liên kết đào tạo, các chuyên đề, chương trình đào tạo ngắn hạn theo nhu cầu người học.