CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ 1. Quan niệm và tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo nghề 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm nghề Về khái niệm nghề, ở các quốc gia có sự khác nhau nhất định.
Đến nay, thuật ngữ “nghề” được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Các nhà xã hội học và nhân lực học trên thế giới đã đưa ra nhiều khái niệm về nghề như: là một loại hoạt động lao động đòi hỏi có sự đào tạo nhất định và thường là nguồn gốc của sự sinh tồn; là một loại lao động có thói quen về kỹ năng, kỹ xảo của một người để từ đó tìm được phương tiện sống; là công việc chuyên môn đòi hỏi một sự đào tạo trong khoa học hoặc nghệ thuật; là hoạt động cần thiết cho xã hội ở một lĩnh vực lao động nhất định đòi hỏi phải được đào tạo ở trình độ nào đó. Như vậy, nghề là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử rất phổ biến gắn chặt với sự phân công lao động, với tiến bộ khoa học, kỹ thuật, và văn minh nhân loại. Bởi vậy, khái niệm này được nhiều ngành khoa học khác nhau nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau Ở Việt Nam, nhiều định nghĩa nghề được đưa ra, song chưa được thống nhất.
Chẳng hạn như: nghề là một tập hợp lao động do sự phân công lao động xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi được. Nghề mang tính tương đối, nó phát sinh, phát triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất và nhu cầu xã hội. Mặc dù khái niệm nghề được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, song chúng ta có thể nhận thấy một số nét đặc trưng nhất định sau: Lê Công Quang Luận văn Thạc sỹ 10 - Đó là hoạt động, là công việc về lao động của con người được lặp đi lặp lại. - Là sự phân công lao động xã hội, phù hợp với yêu cầu xã hội.
- Là phương tiện để sinh sống. - Là lao động kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi trong xã hội, đòi hỏi phải có một quá trình đào tạo nhất định. Hiện nay, xu thế phát triển của nghề chịu tác động mạnh mẽ của tác động khoa học, kỹ thuật và văn minh nhân loại nói chung và về chiến lược phát triển khoa học, kỹ thuật của mỗi quốc gia nói riêng. Bởi vậy, phạm trù "Nghề" biến đổi mạnh mẽ và gắn chặt với xu hướng phát triển khoa học, kỹ thuật của đất nước.
Một số quan niệm cơ bản về đào tạo nghề - Đào tạo: “là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo. một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người”- (từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam). Như vậy, đào tạo là sự phát triển có hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo cho mỗi cá nhân để họ thực hiện một nghề hoặc một nhiệm vụ cụ thể một cách tốt nhất. Đào tạo được thực hiện bởi các loại hình tổ chức chuyên ngành nhằm thay đổi hành vi và thái độ làm việc của con người, tạo cho họ khả năng đáp ứng được tiêu chuẩn và hiệu quả của công việc chuyên môn.
- Đào tạo nghề: “là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học”- (Luật Dạy nghề - 2006). Đào tạo nghề bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau. Đó là: Lê Công Quang Luận văn Thạc sỹ 11 + Dạy nghề: là quá trình giảng viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để các học viên có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp. + Học nghề: là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành của người lao động để đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định.
Đào tạo nghề cho người lao động là giáo dục kỹ thuật sản xuất cho người lao động để họ nắm vững nghề nghiệp, chuyên môn bao gồm đào tạo nghề mới, đào tạo nghề bổ sung, đào tạo lại nghề. Đào tạo nghề mới: là đào tạo những người chưa có nghề, gồm những người đến tuổi lao động chưa được học nghề, hoặc những người trong độ tuổi lao động nhưng trước đó chưa được học nghề. Đào tạo mới nhằm đáp ứng tăng thêm lao động đào tạo nghề cho xã hội. Đào tạo lại nghề: là đào tạo đối với những người đã có nghề, có chuyên môn nhưng do yêu cầu mới của sản xuất và tiến bộ kỹ thuật dẫn đến việc thay đổi cơ cấu ngành nghề, trình độ chuyên môn.
Một số công nhân được đào tạo lại cho phù hợp với cơ cấu ngành nghề và trình độ kỹ thuật mới. Đào tạo lại thường được hiểu là quá trình nhằm tạo cho người lao động có cơ hội để học tập một lĩnh vực chuyên môn mới để thay đổi nghề. Bồi dưỡng nâng cao tay nghề: bồi dưỡng có thể coi là quá trình cập nhật hóa kiến thức còn thiếu, đã lạc hậu, bổ túc nghề, đào tạo thêm hoặc củng cố các kỹ năng nghề nghiệp theo từng chuyên môn và thường được xác nhận bằng một chứng chỉ hay nâng lên bậc cao hơn. Như vậy, xác định rõ ranh giới giữa đào tạo, bồi dưỡng và đào tạo lại nghề hiện nay là một việc phức tạp, khó khăn.
Lê Công Quang Luận văn Thạc sỹ 12 Sơ đồ 1.1: Hệ thống đào tạo nghề trong hệ thống giáo dục quốc dân Tiến sĩ Thạc sĩ 2 – 4 năm 2 năm Giáo dục thường xuyên Đại học 4 - 6 năm Cao đẳng THCN 3 năm 3 - 4 năm THPT 3 năm Dạy nghề: Từ lớp 10 - lớp 12 TC,CĐ: (Từ 15 đến 18 tuổi) Từ 1 năm đến 3 năm Sơ cấp: Dưới 1 năm THCS 4 năm Từ lớp 6 - lớp 9 (Từ 11 đến 15 tuổi) Tiểu học 5 năm Từ lớp 1 - lớp 5 (Từ 6 đến 11 tuổi) Mầm non (Từ 3 đến 6 tuổi) Lê Công Quang Luận văn Thạc sỹ 13 Theo sơ đồ hệ thống khung giáo dục quốc dân, đào tạo nghề được thực hiện ở các cấp khác nhau, ở lứa tuổi khác nhau và được phân luồng để đào tạo nghề phù hợp với trình độ về văn hóa, khả năng phát triển của con người và độ tuổi. Sơ đồ trên cho thấy sự liên thông giữa các cấp học, các điều kiện cần thiết để học nghề hoặc các cấp học tiếp theo. Nó là cơ sở quản lý giáo dục, nâng cao hiệu quả của đào tạo, tránh lãng phí trong đào tạo (cả người học và xã hội), tránh trùng lặp nội dung chương trình, đồng thời là cơ sở đánh giá trình độ người học và cấp các văn bằng, chứng chỉ tốt nghiệp. Tuy vậy, sơ đồ trên cũng cho thấy sự liên thông giữa các cấp đào tạo nghề chưa rõ ràng.
Bộ phận được phân luồng học nghề từ cấp học dưới khi muốn học nghề ở cấp cao hơn thì theo con đường nào hay thì lại phải tiếp tục học cấp cao hơn thì mới chuyển được. Đây là điều hết sức lưu ý trong việc xây dựng hệ thống chương trình, khung giáo dục quốc dân, đảm bảo tính liên thông giữa các cấp học nghề. Quan niệm về chất lượng. Có rất nhiều định nghĩa và cách lý giải khác nhau về chất lượng.
Có ý kiến cho rằng, chất lượng là sự xuất chúng, tuyệt hảo, là giá trị bằng tiền, là sự biến đổi về chất và là sự phù hợp với mục tiêu. Các quan niệm về chất lượng chúng ta có thể thấy qua 6 định nghĩa sau: + Chất lượng là “tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc)… làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác” (Từ điển tiếng Việt phổ thông). + Chất lượng là “cái làm nên phẩm chất, giá trị của sự vật” hoặc là “cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác sự vật kia” (Từ điển tiếng Việt thông dụng – Nhà xuất bản Giáo dục – 1998). + Chất lượng là “mức hoàn thiện, là đặc trưng so sánh hay đặc trưng tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ kiện, các thông số cơ bản” (Oxford Poket Dictationary).
Lê Công Quang Luận văn Thạc sỹ 14 + Chất lượng là “tiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu người sử dụng” (Tiêu chuẩn Pháp – NFX 50-109). + Chất lượng là “tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng) đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn” (TCVN- ISO 8402). Tóm lại: Chất lượng là khái niệm trừu tượng, phức tạp và là khái niệm đa chiều, nhưng chung nhất đó là khái niệm phản ánh bản chất của sự vật và dùng để so sánh sự vật này với sự vật khác. Khái niệm “chất lượng” đã trừu tượng và phức tạp thì khái niệm về “chất lượng đào tạo nghề ” càng phức tạp hơn bởi liên quan đến sản phẩm là giá trị của con người, một sự vật, sự việc.
Như vậy, có thể hiểu chất lượng là để chỉ sự hoàn hảo, phù hợp, tốt dẹp. Chất lượng đào tạo nghề là khái niệm đa chiều, không thể trực tiếp đo đếm được và cảm nhận được. Chất lượng đào tạo nghề phản ánh trạng thái đào tạo nghề nhất định và trạng thái đó thay đổi phụ thuộc vào các yếu tố tác động đến nó. Sẽ không thể biết được chất lượng đào tạo nếu chúng ta không đánh giá thông qua một hệ thống các chỉ tiêu và các yếu tố ảnh hưởng.
Khái niệm chất lượng đào tạo nghề là để chỉ chất lượng các công nhân kỹ thuật được đào tạo trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp theo mục tiêu và chương trình đào tạo xác định trong các lĩnh vực ngành nghề khác nhau, biểu hiện một cách tổng hợp nhất ở mức độ chấp nhận của thị trường lao động, của xã hội đối với kết quả đào tạo. Chất lượng đào tạo nghề còn phản ánh kết quả đào tạo của các cơ sở đào tạo nghề, của cả hệ thống đào tạo nghề. Chất lượng đào tạo nghề biến đổi theo thời gian và theo không gian dưới tác động của các yếu tố.