MỞ ĐẦU “Mỹ học sinh ra vào một ngày nào đó từ một nhận xét và một sự thích thú của Triết gia”!, Paul Valéry da nói như vậy. Cùng với Đạo đức học và Lôgic học, nó tạo thành bộ ba “các khoa học chuẩn mực” như Wundt nói, và là một trong những tập hợp quy tắc mà đời sống tỉnh thần buộc phải có. Người ta có thể nói rằng ba mục tiêu này của Mỹ học: các quy tấc của Nghệ thuật, các quy luật của cái Đẹp, và quy tắc của Sở thích, hoàn toàn phù hợp với những quy tắc của hành động và của khoa học, với các quy luật của cái Thiện và cái Chân. Thật ra, sẽ đúng hơn nếu nhấc lai sau Hegel: “Triết học về Nghệ thuật là một mắt khâu tất yếu trong tập hợp triết học”2.
Nhưng đúng ra Mỹ học là gì? "Theo một nghĩa đầu tiên — cũng là ý nghĩa đầu tiên của nó — Triết học về Nghệ thuật lúc đầu chỉ TÍNH NHẠY CAM (vé mặt từ nguyên, œi+/hésíy có nghĩa là tính nhạy cảm trong tiếng Hy Lạp) với hai nghĩa: nhận thức cảm tính (tri giác) và mat cảm tính của sự ức động”. Diễn vấn khai mạc Đại hội quốc tế về mỹ học và khoa học nghệ thuật lân H, Paris, 1937, (PUK, 1937), 2, Mỹ học, Nhà xuất bản Aubier, Paris, 1944, tl, tr. Theo nghĩa này, xem Phan | cita Phé phán lý trí thuần túy: "Mỹ học” siêu việt, nghiên cứu trì giác vẻ không gian và thời ghơi như những hình thức ø priori (tiên nghiệm) của tính nhạy cảm của chúng ta. thế Paul Valéry có thể nói rằng: “Mỹ học, đó là CÁI MỸ HỌC”!, Theo một nghĩa thứ hai, cập nhật hơn nhiều, nó chỉ “mọi suy nghĩ triết học về Nghệ thuat”?.
Nghĩa là đối tượng và phương pháp của Mỹ học sẽ phụ thuộc vào cách người ta định nghĩa Nghệ thuật. Việc làm sáng tỏ khái niệm này sẽ là đối tượng của nhiều chương trong cuốn sách này (1 đến IV), trước tiên theo một đàn ý theo thứ tự niên đại, sau đó theo một trật tự logic. Sau đó sẽ bàn lại tâm lý học về con người trước Nghệ thuật (V) hoặc xã hội học về con người đứng trước cái đẹp (VD, tiếp theo sẽ thử phân tích Nghệ thuật trong số những giá trị khác nhau (VII) hoặc qua những sự xác định tính chất khác nhau của nó (VI); và sẽ kết thúc bằng một vài nhận xét về phương pháp của Mỹ học nhằm thử xác định thật chặt chẽ một lĩnh vực rất khó nắm bắt là lĩnh vực giáp ranh với khoa học, với phê bình và với sử học (IX). Xin tuyệt đối đừng tìm kiếm ở những chương khác nhau ấy một lối biện hộ (ro modo), bảo vệ và mình họa cho mỹ học.
Không ai thấy rõ hơn tác giả về ưu thế của nội dung đối với cái chứa đựng nó. Bên trên Triết học về Nghệ thuật, chính là bản thân Nghệ thuật. Như trên, Đại hội quốc tế về Mỹ học lấn 11. Tap chi Mĩ học, năm thứ nhất, số 1.
Giới thiệu, PUP, 1948. 4 PHẦN THỨ NHẤT CÁC GIAI ĐOẠN CỦA MỸ HỌC Về đại thể, người ta có thể phân biệt ba giải đoạn trong lịch sử Mỹ học: (hởi giáo điểu là giải đoạn của những tiếng bập bẹ đầu tiên và cái thời thơ ấu ấy đã kéo đài từ Soerate đến Baumparten!, hay ít ra cũng đến Montaigne. Vì Mỹ học, khi đã được cha đỡ đầu làm lễ rửa tội, còn phải trải qua thời quyết định cia no tir Kant đến những người sau Kan. Nó trưởng thành nhanh chóng nhờ vào khoảng nửa tá hệ thống, và trong chưa đầy một trăm năm (1750- 1850) nó đã đạt tới Thời trưởng thành, nên nếp và yên ồn của nó.
Đó là tuổi tích cực trong đó nó phải gặp lại một “'sự khủng hoảng trưởng thành” đáng kinh ngạc đối với một kẻ đã già như vậy. Triết học về cái Đẹp hẳn đã có thể tiêu vong cùng với những người ủng hộ một r Gottlieb Buumgarten, giáo sư Trường đại học franclon,, gt bo Aesthetic nam I750: đồ là năm ra đời thuật ngữ Khoa Nghệ thuật. thứ khoa học về nghệ thuật chỉ mang tính kỹ thuật. Nhung không phải thế: khi “tuổi hồi xuân” ấy đã đi qua, giai đoạn hiện nay của nó lại nằm trong sự kéo dài Thời tích cực, và Mỹ học hiện đại không những không, suy tàn mà lại nằm trong sự phát triển toàn vẹn!.
Định để để chúng tôi xuất phát ở đây là chỉ nói tới những nhà triết học mà không phái tới những nhà sáng tạo. dù cho những người này đ có một thứ mỹ học rõ ràng hay tiểm ẩn, ngấm ngắm hay công khai. “Từ Michel-Ange đến Paul Valery, (ir Boileau dén Eugtne Delacroix, lit Lessing đến Rodin, chting tôi loại bỏ TẤT CÁ những gì mỹ học bàn về những nghệ thuật riêng biệt hơn là về một lý thuyết vẻ Nghệ thuật nói chung. CHUONG I THUYET PLATON HAY THOI GIAO DIEU Nếu phải phác họa, theo {6i Descartes, cay Triét học-Nghệ thuật này, như tác giả của Mhững nghyền lý đã vạch ra thành một Lời tựa nổ ‘ng, thi người ta sé có thuyết Platon làm gốc rễ, khởi thủy của mọi thứ Mỹ học.
Thật vậy, nếu không đi ngược lên cơn lũ lớn.của tư tưởng phương Đông, nếu không nhắc lại các cụ ky phương Tây là Bảy Hiển triết, hoặc nhất là Héraclite hay Hésiode, thì ba nhà ba nhà triết học Hy Lạp lớn hợp thành nền tảng đầu tiên của Mỹ học chính là: Socrate, Platon, Aristote. Nhung, 6 day, Socrate 1A gucng mat bdo trudc va Aristote 14 ngudi ké thita cua vị Thượng đế thực thụ của vẻ Đẹp: Platon. Cũng vậy, Plotin hoặc thánh Augustin chỉ làm công việc của các Nhà mỹ học khi họ dựa vào tư tưởng của Platon; cho đến và kế cả thời Phục hưng, toàn bộ sự suy nghĩ về Nghệ thuật đều xuất phát từ Platon mà thôi. Rồi lại thấy ở đây mọc lên một cách uy nghỉ thân cay Kant, gần như cũng gây ấn tượng mạnh như những nhánh chủ của nó: những nhánh này noi theo Platon nhiều hơn chính họ tưởng, đó là Hegel, Schelling hay Schopenhauer, Cuối cùng là những chổi gốc xuất hiện gần đây nhất.
Xin nói ngay rằng Socrate đánh đấu sự khởi đầu một giai đoạn căn bản của Mỹ học trước khi ở thể chính thức: một người theo phái thuần túy! có thể lưu ý ching ta rang những từ ngữ như SIÊU HÌNH HỌC, hay MỸ HỌC, đã xuất hiện một cách tương ứng sau Platon hay hai muoi ba thế kỷ. Nhưng người ta sẽ dùng những thuật ngữ này một cách không đúng, đo cách dùng lỗi thời được phép hợp thức qua sử dụng. Và lại, đây không phải là một công việc sử học. Mọi cái đã được nói về Platon và các nghệ thuật thời ông: O.
Pierre- Maxime Schuhl đã dành một luận văn và nhiều thông báo vang đội cho điều nay? Socrate (470-399),— Xénophon ké cho chúng ta trong Những người dụng nhớ và Bữa tiệc của ông về Socrate đã giảng dạy cho Parrhasios Họa sĩ và nhà điêu khắc Cliton về cách biểu hiện cái đáng yêu nhất trong. người mâu bằng cách thể hiện vé đẹp thật sự của tâm hồn qua các cử chí như thế nào. Dưới cái vỏ thân thể, cần phải đạt tới vé đẹp cốt yếu của dinh thần. Phédon, Platon cũng sẽ nói như vậy: thân thể là một ngôi mộ.
Nhưng những nhận xét ấy của Socrate và nhất là những dữ liệu trước Socrate không phải còn lại từng mẩu; nguyên lý về ï mm hôn tỏa chiếu, phát ra hết sức mạnh mẽ vẻ đẹp siêu nhiên là cái gốc của hệ thống Platon; chúng tôi sẽ không cố thử tách ra ở đây cái gì 1. puriste: sự quan tâm thái quá về sự thuần khiết của ngôn ngữ, nghệ thud NLD. Plufon và Nghệ thuật thời ông, PÙU. của Socrate khỏi thuyết Platon.
Chắc chắn là mọi ¡ đã được người môn đồ này suy nghĩ lại và vượt qua nhiều. Chỉ cần dựa vào Phédøn (100, E) để đo khoảng cách phân chia hai sự nghiệp ấy: Platon nói ở nguồn gốc của moi vé dep hẳn phải có "một vẻ đẹp đầu tiên mà chí sự hiện hữu của nó cũng đã làm cho mọi vật trở thành đẹp, và chúng ta gọi chúng là đẹp theo một cách nào đó do sự truyền cảm ấy tạo ra”. Còn hơn thế n người tả có thể đi tới chỗ nói rằng Mỹ học sinh ra vào cái ngày mà Socrate đã biết tra lai cho Hippias (trong Hippias Lon) rằng cái Đẹp không phải là một thuộc tính riêng của một nghìn lẻ một đối tượng; chác chắn những con người, những con ngựa, áo quần, nàng trình nữ hay chiếc đàn li đều là những vật đẹp; nhưng trên cả những thứ đó, có vẻ Đẹp tự nó!. Sau đó Socr:de còn trả lời cho chàng 'Théètète trẻ tuổi rằng khoa học không phái là Thiên van học, cũng không phải là Hình học hay Số học, mà nó còn lớn hơn và hay hơn những trì thức bộ phận ấy.
Cũng ậy, vẻ Đẹp không thể bị quy thành một vật đơn giản nàu cả, cũng không thể quy thành hai chục thực thể cụ thể, Ở đây chúng ta để cập tới nền tảng của luận điểm Platon: hầu hết những kiến thức nhập môn của mọi thứ mỹ học tương lai dường như đều nằm trong đoạn ngắn ngủi ấy. Nhưng Socrate đã không còn nữa. Platon (427-347) và phép biện chứng Platon. — Tà hãy đi theo sự hướng dẫn của chính Platon: trong 1.
Xem Raymond Bayer. Phương pháp của mỹ học, trong Cức điển Hiện về phương pháp trong mỹ học, Plammarion, 1953. 9 bệ ba đáng ngạc nhiên ấy!, chỉ có Bite tiée (cha Platon mà không phải của Xénophon) được coi là có một kiểu bắt chước vẻ Đẹp bằng Tình yêu. Chính qua sự tu luyện khổ hạnh biến chứng để hướng tới ý niệm về vẻ Đẹp, mà chúng ta sẽ được đưa tới tình yêu kiểu Platon, như cái bảo đảm cho vẻ đẹp lý tưởng, qua sự duyên đáng của "truyện cổ tích về người đàn bà hiển từ" ấy, nhu Alain da néi.
Phédon va Phéedre sé xac mình kinh nghiệm về Con này, Như cách thức là thế này: để biết xem cái gì là đẹp thực sự trên mặt ẩn phái tạo rat cái trống rông về tỉnh thần. và quét khói tính thần tất cả những gì chứa đựng cái không đúng và còn thiếu, Do đó, phải bỏ qua tất cả những sú lắm có trước và cố tim thấy lại sự ngây thơ đầu. Đó sẽ là đối tượng của môn học promepriqnte nhằm xóa bó những ở lực đổi với nhận thức đích thực. Người ta biết rằng Bữa đệc quy tụ những khách mời mà đều tán đương Tình yên bằng những lời lẽ thơ mộng và văn vé.