MỞ ĐẦU. Lý do chọn đề tài. Mục đích nghiên cứu. Giới hạn nghiên cứu của đề tài.
Phƣơng pháp nghiên cứu. Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu. Phƣơng pháp tiếp cận nghiên cứu.
8 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LÝ LUẬN. Tổng quan vấn đề nghiên cứu .1 Nghiên cứu ở nƣớc ngoài về năng lực giải quyết vấn đề. Nghiên cứu ở trong nƣớc về năng lực giải quyết vấn đề. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài.
Các kiểu trắc nghiệm. Các bƣớc cơ bản của quy trình thiết kế công cụ đo lƣờng. Khái niệm năng lực. Vấn đề và giải quyết vấn đề.
Năng lực giải quyết vấn đề trong các tƣơng tác xã hội. 42 CHƢƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .Vài nét về địa bàn nghiên cứu và đặc điểm của sinh viên CĐSP Quảng Trị.Vài nét về địa bàn nghiên cứu. Vài nét về đặc điểm sinh viên trƣờng CĐSP Quảng Trị. Mẫu nghiên cứu.
Nội dung và tiến trình nghiên cứu. Nội dung nghiên cứu. Tiến trình nghiên cứu. Phƣơng pháp trắc nghiệm đo năng lực GQVĐ trong các tƣơng tác xã hội .Thiết kế trắc nghiệm.
Kết quả thử nghiệm trắc nghiệm. 54 CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU. Đánh giá độ tin cậy của trắc nghiệm. Đánh giá độ khó của từng item.
Đánh giá độ phân biệt của từng item. Đánh giá độ hiệu lực của trắc nghiệm. Kết luận về bộ công cụ đánh giá năng lực GQVĐ trong các tƣơng tác xã hội. Năng lực GQVĐ của sinh viên trƣờng CĐSP Quảng Trị.
74 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ. 77 TÀI LIỆU THAM KHẢO. Lý do chọn đề tài Năng lực giải quyết vấn đề trong các tƣơng tác xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng với không chỉ riêng một ai mà đối với tất cả mọi ngƣời. Bởi để tồn tại và phát triển con ngƣời ta phải tiếp xúc, quan hệ qua lại với rất nhiều cá nhân hay nhóm ngƣời để trao đổi về các vấn đề của công việc và cuộc sống.
Vì vậy, năng lực giải quyết vấn đề giúp con ngƣời giải quyết tốt các tình huống xảy ra đối với bản thân, giữ thăng bằng tâm lí, thiết lập mối quan hệ xã hội và có thể thích ứng trong môi trƣờng mới lạ. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và kinh tế tri thức đƣợc xem là thời cơ nhƣng cũng là thách thức rất khốc liệt không chỉ đối với quốc gia mà còn đối với mỗi cá nhân con ngƣời. Vì vậy, để tồn tại và thích ứng tốt trong một môi trƣờng xã hội luôn luôn biến đổi và phát triển không ngừng đòi hỏi mỗi ngƣời phải có năng lực thật sự để hội nhập vào cuộc sống mới với những yêu cầu mới. Trong xu thế đó, con ngƣời buộc phải nhanh chân trong cuộc chiến giành lấy tri thức, kỹ năng bằng cách học tập thƣờng xuyên, học tập suốt đời để trụ vững trong vòng xoáy cuộc sống.
Những ai không biết định hƣớng cuộc sống, không biết tự thân vận động chắc chắn sẽ bị bỏ lại phía sau, thậm chí bị đào thải bởi quy luật của kinh tế thị trƣờng. Chính điều đó thúc đẩy con ngƣời phải không ngừng hoạt động sáng tạo, phát triển trình độ chuyên môn, kỹ năng, kỹ xảo và phải năng động để giải quyết tốt những vấn đề mà cuộc sống đặt ra cho bản thân mình. Vì vậy, việc hình thành năng lực giải quyết vấn đề cho ngƣời học là một vấn đề quan trọng và cấp bách nhất của dạy học và giáo dục. Theo công bố ngày 9/12/2011 của Trung tâm nghiên cứu và phân tích chính sách thuộc trƣờng ĐH KHXH&NV (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho 5 thấy một thực trạng đáng buồn là 61% sinh viên ra trƣờng phải đào tạo lại từ đầu do thiếu kĩ năng làm việc.
Còn các nhà tuyển dụng thì than phiền rất nhiều về sản phẩm đào tạo. Bởi hầu hết cử nhân đƣợc nhận việc đều phải đào tạo lại, trong đó 92% phải đào tạo lại nghiệp vụ, 61% về kỹ năng mềm cơ bản, 53% về kỹ năng giao tiếp, ứng xử. Từ thực tế trên cho thấy giáo dục nƣớc ta vẫn chƣa chú trọng nhiều đến việc dạy cho ngƣời học có năng lực, đặc biệt là năng lực giải quyết vấn đề trong các tƣơng tác xã hội. Vì thế, sinh viên ra trƣờng chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu của xã hội, yếu về thực hành chuyên môn, không có kỹ năng mềm, không thể giải quyết đƣợc những vấn đề của công việc cũng nhƣ của cuộc sống đặt ra.
Điều này thể hiện ở chỗ giáo dục nƣớc ta chƣa có và chƣa sử dụng bộ công cụ đánh giá năng lực giải quyết vấn đề vào trong các kỳ thi tuyển sinh, đánh giá đầu vào, đầu ra. Chính vì thế mà giáo dục chƣa tập trung vào việc dạy cho ngƣời học năng lực giải quyết vấn đề, khiến sinh viên ra trƣờng chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu của xã hội. Xuất phát từ những lí do đó, tôi đã lựa chọn đề tài “Xây dựng bộ công cụ đánh giá năng lực giải quyết vấn đề trong các tương tác xã hội” để nghiên cứu. Thông qua đề tài này chúng tôi muốn xây dựng đƣợc một bộ công cụ đánh giá năng lực giải quyết vấn đề trong các tƣơng tác xã hội có độ tin cậy và có độ hiệu lực đảm bảo.
Để đánh giá đƣợc độ tin cậy và độ hiệu lực của bộ công cụ, chúng tôi áp dụng thí điểm đánh giá đối với sinh viên trƣờng CĐSP Quảng Trị. * Ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn của đề tài 6 Ý nghĩa về mặt lý luận Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ bổ sung thêm một phần nhỏ vào hệ thống lý thuyết về việc đánh giá năng lực của ngƣời học. Ý nghĩa về mặt thực tiễn Đề tài cung cấp bộ công cụ đánh giá năng lực giải quyết vấn đề trong các tƣơng tác xã hội, từ đó làm cơ sở để các trƣờng đánh giá thực chất năng lực của sinh viên, hiểu đƣợc điểm mạnh, điểm yếu của sinh viên từ đó trƣờng có thể đề ra những biện pháp giáo dục, rèn luyện hình thành năng lực giải quyết vấn đề (GQVĐ) trong các tƣơng tác xã hội cho sinh viên. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu này hƣớng đến mục đích chính là xây dựng bộ công cụ đánh giá năng lực GQVĐ trong các tƣơng tác xã hội dành cho sinh viên.
Để đạt đƣợc mục đích trên, đề tài này hƣớng đến những mục tiêu cụ thể sau: - Xác định cơ sở lý luận về năng lực GQVĐ trong các tƣơng tác xã hội. - Nghiên cứu xây dựng bộ công cụ đánh giá năng GQVĐ trong các tƣơng tác xã hội. - Áp dụng thí điểm đánh giá độ tin cậy, độ hiệu lực của bộ công cụ đối với sinh viên trƣờng CĐSP Quảng Trị. Giới hạn nghiên cứu của đề tài Đề tài chỉ giới hạn trong việc nghiên cứu, xây dựng bộ công cụ đánh giá năng lực GQVĐ trong các tƣơng tác xã hội và áp dụng thí điểm đối với sinh viên trƣờng CĐSP Quảng Trị.
Phƣơng pháp nghiên cứu 4. Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu Việc xây dựng bộ công cụ đánh giá năng lực GQVĐ trong các tƣơng tác xã hội là cơ sở để các trƣờng đánh giá đƣợc năng lực GQVĐ của sinh viên, 7 phát hiện đƣợc điểm mạnh, điểm yếu. Từ đó có biện pháp giúp hình thành và rèn luyện năng lực này cho sinh viên để họ ra trƣờng có thể tự mình giải quyết tốt các vấn đề trong cuộc sống cũng nhƣ trong công việc. Câu hỏi nghiên cứu đƣợc đặt ra ở đây là: - Liệu bộ công cụ đánh giá năng lực GQVĐ trong tƣơng tác xã hội có phù hợp với khung lý thuyết và đáp ứng các tiêu chuẩn đo lƣờng (độ khó, độ tin cậy, độ phân biệt và độ hiệu lực đảm bảo)? - Năng lực GQVĐ trong các tƣơng tác xã hội của SV trƣờng CĐSP Quảng Trị biểu hiện nhƣ thế nào? Có điểm mạnh/điểm yếu ở khâu nào? Các giả thuyết nghiên cứu đƣợc đặt ra là: - Bộ công cụ đánh giá năng lực GQVĐ trong các tƣơng tác xã hội đáp ứng các tiêu chuẩn đo lƣờng (độ khó, độ tin cậy, độ phân biệt và độ hiệu lực đảm bảo).
Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu Khách thể nghiên cứu: 469 sinh viên trƣờng CĐSP Quảng Trị. Đối tƣợng nghiên cứu: bộ công cụ đánh giá năng lực GQVĐ trong các tƣơng tác xã hội. Phƣơng pháp tiếp cận nghiên cứu Để nghiên cứu đề tài này chúng tôi sử dụng phối hợp các phƣơng pháp sau: - Phƣơng pháp nghiên cứu lý luận, hồi cứu tƣ liệu: nghiên cứu các tài liệu trong và ngoài nƣớc liên quan đến năng lực giải quyết vấn đề trong các tƣơng tác xã hội. - Phƣơng pháp trắc nghiệm: xây dựng bộ trắc nghiệm đo lƣờng năng lực GQVĐ trong các tƣơng tác xã hội dựa trên 2 nhóm: năng lực duy trì các quan hệ xã hội và năng lực giải quyết vấn đề trong các tương tác xã hội của sinh viên.
8 - Phƣơng pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến của chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực Đo lƣờng đánh và đánh giá trong giáo dục về mô hình lý thuyết và xây dựng công cụ đo năng lực GQVĐ trong các tƣơng tác xã hội dành cho sinh viên; - Phƣơng pháp thống kê toán học (sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 15.0 và Quest để xử lý và phân tích số liệu). 9 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LÝ LUẬN 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Dạy học tập trung vào phát triển năng lực cho ngƣời học không phải là vấn đề mới mẻ trong lịch sử. Có rất nhiều quan điểm, tƣ tƣởng và công trình nghiên cứu về năng lực dƣới nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau.
Dù ở góc độ nào đi chăng nữa thì nhìn chung đều hƣớng vào ngƣời học, hình thành và phát triển tối đa khả năng của ngƣời học nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội.1 Nghiên cứu ở nƣớc ngoài về năng lực giải quyết vấn đề Ở phƣơng Tây có nhiều quan điểm về năng lực (thậm chí trái ngƣợc nhau): theo quan điểm di truyền học, trƣờng phái A. Simson cho rằng: Năng lực phụ thuộc tuyệt đối vào tính chất bẩm sinh di truyền của gen. Theo quan điểm xã hội học, E. Theo trƣờng phái tâm lí học hành vi, J.Watson (1870-1958) coi năng lực của con ngƣời chỉ là sự thích nghi sinh vật với điều kiện sống.
Nhìn chung các quan niệm này chỉ xem xét năng lực từ phía bản năng sinh vật, từ yếu tố bẩm sinh di truyền của con ngƣời mà coi nhẹ yếu tố giáo dục.