Luận Văn Thạc Sĩ: Đánh Giá Năng Lực Giải Quyết Vấn Đề Trong Tương Tác Xã Hội

Luận văn thạc sĩ kỹ thuật phân tích vnu xây dựng bộ công cụ đánh giá năng lực giải quyết vấn đề trong các tương tác xã hội áp dụng thí, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2013

117
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LÝ LUẬN

1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.2. Nghiên cứu ở nước ngoài về năng lực giải quyết vấn đề

1.3. Nghiên cứu ở trong nước về năng lực giải quyết vấn đề

1.4. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài

1.5. Các kiểu trắc nghiệm

1.6. Các bước cơ bản của quy trình thiết kế công cụ đo lường

1.7. Khái niệm năng lực

1.8. Vấn đề và giải quyết vấn đề

1.9. Năng lực giải quyết vấn đề trong các tương tác xã hội

2. CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Vài nét về địa bàn nghiên cứu và đặc điểm của sinh viên CĐSP Quảng Trị

2.2. Vài nét về đặc điểm sinh viên trường CĐSP Quảng Trị

2.3. Mẫu nghiên cứu

2.4. Nội dung và tiến trình nghiên cứu

2.5. Nội dung nghiên cứu

2.6. Tiến trình nghiên cứu

2.7. Phương pháp trắc nghiệm đo năng lực GQVĐ trong các tương tác xã hội

2.8. Thiết kế trắc nghiệm

2.9. Kết quả thử nghiệm trắc nghiệm

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đánh giá độ tin cậy của trắc nghiệm

3.2. Đánh giá độ khó của từng item

3.3. Đánh giá độ phân biệt của từng item

3.4. Đánh giá độ hiệu lực của trắc nghiệm

3.5. Kết luận về bộ công cụ đánh giá năng lực GQVĐ trong các tương tác xã hội

3.6. Năng lực GQVĐ của sinh viên trường CĐSP Quảng Trị

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về Bộ Công Cụ Đánh Giá Năng Lực Giải Quyết Vấn Đề

Bộ công cụ đánh giá năng lực giải quyết vấn đề cho sinh viên CĐSP Quảng Trị được xây dựng nhằm mục đích nâng cao khả năng giải quyết vấn đề trong các tương tác xã hội. Năng lực này không chỉ quan trọng trong học tập mà còn trong cuộc sống hàng ngày. Việc đánh giá năng lực này giúp sinh viên nhận thức rõ hơn về điểm mạnh và điểm yếu của bản thân, từ đó có thể cải thiện và phát triển hơn nữa.

1.1. Ý nghĩa của việc đánh giá năng lực giải quyết vấn đề

Đánh giá năng lực giải quyết vấn đề giúp sinh viên nhận diện được khả năng của mình trong việc xử lý các tình huống thực tế. Điều này không chỉ giúp họ tự tin hơn trong giao tiếp mà còn nâng cao khả năng làm việc nhóm và giải quyết xung đột.

1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực giải quyết vấn đề

Năng lực giải quyết vấn đề phụ thuộc vào nhiều yếu tố như kiến thức, kỹ năng mềm, và kinh nghiệm thực tiễn. Việc phát triển những yếu tố này sẽ giúp sinh viên có khả năng ứng phó tốt hơn với các tình huống trong cuộc sống.

II. Vấn đề và Thách thức trong Đánh Giá Năng Lực Giải Quyết Vấn Đề

Mặc dù việc đánh giá năng lực giải quyết vấn đề là cần thiết, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức trong quá trình thực hiện. Các sinh viên thường gặp khó khăn trong việc nhận diện và phát triển năng lực này do thiếu các công cụ đánh giá hiệu quả.

2.1. Thực trạng năng lực giải quyết vấn đề của sinh viên

Nhiều sinh viên ra trường không đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng do thiếu kỹ năng giải quyết vấn đề. Theo thống kê, 61% sinh viên phải đào tạo lại từ đầu vì thiếu kỹ năng làm việc.

2.2. Những khó khăn trong việc áp dụng bộ công cụ đánh giá

Việc áp dụng bộ công cụ đánh giá năng lực giải quyết vấn đề gặp khó khăn do thiếu sự đồng bộ trong chương trình giảng dạy và sự hỗ trợ từ các giảng viên. Điều này dẫn đến việc sinh viên không được trang bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng cần thiết.

III. Phương pháp Xây Dựng Bộ Công Cụ Đánh Giá Năng Lực Giải Quyết Vấn Đề

Để xây dựng bộ công cụ đánh giá năng lực giải quyết vấn đề, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học và thực tiễn. Việc này bao gồm việc khảo sát, phân tích và thử nghiệm các công cụ đánh giá hiện có.

3.1. Các bước thiết kế bộ công cụ đánh giá

Quá trình thiết kế bộ công cụ bao gồm việc xác định mục tiêu, xây dựng nội dung, và thử nghiệm độ tin cậy của công cụ. Các bước này đảm bảo rằng bộ công cụ có thể đánh giá chính xác năng lực của sinh viên.

3.2. Thử nghiệm và điều chỉnh bộ công cụ

Sau khi thiết kế, bộ công cụ cần được thử nghiệm trên một mẫu sinh viên để đánh giá độ hiệu quả. Dựa trên kết quả thử nghiệm, các điều chỉnh cần thiết sẽ được thực hiện để cải thiện tính chính xác và độ tin cậy của công cụ.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn của Bộ Công Cụ Đánh Giá Năng Lực Giải Quyết Vấn Đề

Bộ công cụ đánh giá năng lực giải quyết vấn đề không chỉ có giá trị trong việc đánh giá sinh viên mà còn có thể được áp dụng trong các chương trình đào tạo và phát triển kỹ năng cho sinh viên.

4.1. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả từ việc áp dụng bộ công cụ cho thấy sinh viên có sự cải thiện rõ rệt trong khả năng giải quyết vấn đề. Điều này chứng tỏ rằng việc đánh giá và phát triển năng lực này là cần thiết và hiệu quả.

4.2. Đề xuất các biện pháp cải thiện

Để nâng cao hiệu quả của bộ công cụ, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các giảng viên và sinh viên. Các biện pháp như tổ chức các buổi đào tạo, hội thảo về kỹ năng giải quyết vấn đề sẽ giúp sinh viên phát triển năng lực này tốt hơn.

V. Kết Luận và Tương Lai của Bộ Công Cụ Đánh Giá Năng Lực Giải Quyết Vấn Đề

Bộ công cụ đánh giá năng lực giải quyết vấn đề cho sinh viên CĐSP Quảng Trị là một bước tiến quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục. Tương lai của bộ công cụ này sẽ phụ thuộc vào việc cải tiến và áp dụng rộng rãi trong các chương trình đào tạo.

5.1. Tầm quan trọng của việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề

Năng lực giải quyết vấn đề sẽ ngày càng trở nên quan trọng trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển nhanh chóng của công nghệ. Sinh viên cần được trang bị những kỹ năng này để có thể thích ứng và thành công trong môi trường làm việc hiện đại.

5.2. Định hướng phát triển bộ công cụ trong tương lai

Trong tương lai, bộ công cụ cần được cập nhật và điều chỉnh để phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động. Việc nghiên cứu và phát triển thêm các phương pháp đánh giá mới sẽ giúp nâng cao hiệu quả của bộ công cụ.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu xây dựng bộ công cụ đánh giá năng lực giải quyết vấn đề trong các tương tác xã hội áp dụng thí điểm đối với sinh viên trường cđsp quảng trị

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LÝ LUẬN 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Dạy học tập trung vào phát triển năng lực cho người học không phải là vấn đề mới mẻ trong lịch sử. Có rất nhiều quan điểm, tư tưởng và công trình nghiên cứu về năng lực dưới nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau. Dù ở góc độ nào đi chăng nữa thì nhìn chung đều hướng vào người học, hình thành và phát triển tối đa khả năng của người học nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội.1 Nghiên cứu ở nước ngoài về năng lực giải quyết vấn đề Ở phương Tây có nhiều quan điểm về năng lực (thậm chí trái ngược nhau): theo quan điểm di truyền học, trường phái A.

Simson cho rằng: Năng lực phụ thuộc tuyệt đối vào tính chất bẩm sinh di truyền của gen. Theo quan điểm xã hội học, E. Theo trường phái tâm lí học hành vi, J.Watson (1870-1958) coi năng lực của con người chỉ là sự thích nghi sinh vật với điều kiện sống. Nhìn chung các quan niệm này chỉ xem xét năng lực từ phía bản năng sinh vật, từ yếu tố bẩm sinh di truyền của con người mà coi nhẹ yếu tố giáo dục.

Các nhà tâm lý học Mácxit nhìn nhận và nghiên cứu về vấn đề năng lực theo cách khác. Họ không tuyệt đối hóa vai trò của yếu tố bẩm sinh di truyền đối với năng lực mà nhấn mạnh đến yếu tố hoạt động lao động và học tập trong hình thành năng lực. Karl Marx đã chỉ rõ: “Sự khác nhau về tài năng tự nhiên của các cá 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhân không phải là nguyên nhân mà là kết quả của sự phân công lao động”[A. Engels thì cho rằng: “Lao động đã sáng tạo ra con người” [A.

Trường phái tâm lý học Xô Viết với A. Laytex và tiêu biểu là B. Chieplov coi năng lực là những đặc điểm tâm lí cá nhân có liên quan với kết quả tốt đẹp của việc hoàn thành một hoạt động nào đó. Cũng với quan điểm trên, X.Rubinstein chú trọng đến tính có ích của hoạt động, ông coi năng lực là điều kiện cho một loại hoạt động có ích của con người: Năng lực là toàn bộ những thuộc tính tâm lí làm cho con người thích hợp với một loại hoạt động có ích lợi cho xã hội nhất định.

Năng lực là một tổ hợp bao gồm sự hiểu biết (kiến thức), thái độ, kỹ năng và kinh nghiệm cần thiết bắt buộc thực hiện có hiệu quả trong thực thi nhiệm vụ thực tiễn. Những hoạt động này có thể liên quan đến bất kỳ lĩnh vực nào, mặc dù chúng được liên kết với lĩnh vực công việc và tồn tại xã hội trong môi trường mới. Vào những năm 1970, giáo dục - đào tạo tập trung vào năng lực ra đời được xem như một làn gió mới làm tươi mát phong trào giáo dục - đào. Các nhà giáo dục và đào tạo nghề đã nhất trí và chú trọng tập trung vào 2 chủ đề chính là “Học tập và nâng cao chất lượng và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ” (Weinberger, 1998).

Bằng việc chú trọng vào việc nâng cao chất lượng và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ, tiếp cận dựa trên năng lực là rất phổ biến trên toàn thế giới. Tiếp cận năng lực trong giáo dục (CBE- competancy based education) tập trung vào kết quả học tập, nhắm tới những gì người học dự kiến phải làm được hơn là nhắm tới những gì họ cần phải học được (Richards và Rodgers, 2001). CBE xuất hiện tại Hoa Kỳ trong những năm 1970 gắn với một phong trào giáo dục chủ trương xác định mục tiêu giáo dục bằng cách mô tả cụ thể để có thể đo lường được những kiến thức, kỹ năng và thái độ mà học 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sinh cần phải đạt được sau khi kết thúc khóa học. Tiếp cận năng lực trong giáo dục cũng có thể được định nghĩa là một chiến lược giảng dạy, trong đó quá trình học tập dựa trên năng lực thực hiện (performance-based learning).

Người học chứng minh mức độ nắm kiến thức của mình bằng hành động cụ thể. Nhiều tác giả cho rằng, tiếp cận năng lực trong giáo dục là một cách tiếp cận chức năng giáo dục nhấn mạnh tới kỹ năng sống và đánh giá mức độ làm chủ những kỹ năng theo mức độ thực hiện hoạt động thực tế của người học. Theo Văn phòng Giáo Dục Hoa Kỳ (U. Office of Education) “Đào tạo người học dựa trên năng lực thực hiện dẫn họ đến việc làm chủ được những kỹ năng cơ bản và kỹ năng sống cần thiết của cá nhân và hòa nhập tốt vào hoạt động lao động ngoài xã hội " (Văn phòng Giáo dục Hoa Kỳ, 1978).

Năng lực của người học đối với một môn khoa học nào đó được mô tả kết hợp kiến thức, kỹ năng, thái độ thành hành vi cần thiết giúp người học thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ thực trong cuộc sống. Những năng lực được thiết kế trong khóa khọc có thể liên quan đến bất kỳ lĩnh vực nào của cuộc sống hàng ngày, tuy nhiên nó thường liên quan đến các lĩnh vực của công việc và các kỹ năng giúp con người tồn tại trong một môi trường nhiều biến động của xã hội [A. Boyatzis et al và Whetten & Cameron (1995) cho rằng phát triển các chương trình giáo dục và đào tạo dựa trên mô hình năng lực cần xử lý một cách có hệ thống ba khía cạnh sau: (1) xác định các năng lực, (2) phát triển chúng, và (3) đánh giá chúng một cách khách quan. Để xác định được các năng lực, điểm bắt đầu thường là những kết quả đầu ra (outputs).

Từ những kết quả đầu ra này, đi đến xác định những vai trò của người có trách nhiệm phải tạo ra các kết quả đầu ra này. Một vai trò là một tập hợp các hành vi được mong đợi về một người theo những nghĩa vụ và địa vị công việc của người đó. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các mô hình năng lực đã được phát triển rộng khắp trên thế giới với hệ thống chất lượng quốc gia về đào tạo nghề nghiệp (National Vocational Qualifications (NVQs)) ở Anh và xứ Wales. Khung chất lượng quốc gia của New Zealand (New Zealand's National Qualifications Framework), các tiêu chuẩn năng lực được tán thành, khẳng định bởi Hội đồng đào tạo quốc gia Australia về đào tạo (National Training Board (NTB)), và Hội đồng thư ký về những kỹ năng cần thiết phải đạt được (the Secretary's Commission on Achieving Necessary Skills (SCANS)) và những tiêu chuẩn kỹ năng quốc gia (the National Skills Standards) ở Mỹ, các bộ năng lực này được coi là các bộ năng lực kinh điển [B.

Nổi bật hơn cả là bộ năng lực SCANS của Hội đồng thư ký về những kỹ năng cần thiết phải đạt được (Mỹ). Ở đó, người ta đưa ra 5 nhóm năng lực cần thiết mà người lao động thế kỷ 21 phải có và nhà trường phải tạo ra chúng ở người học bao gồm: nguồn lực (gồm năng lực xác định, tổ chức, lập kế hoạch và phân bổ nguồn lực như thời gian, tiền bạc, nguyên vật liệu và phương tiện, nguồn nhân lực), hợp tác, khai thác và sử dụng thông tin, thông hiểu những mối quan hệ nội tại, làm việc trong môi trường đa dạng về kỹ thuật.Để hình thành được 5 nhóm năng lực này nhất thiết phải đạt được 3 nhóm kỹ năng cơ bản là: các kỹ năng cơ bản (đọc, viết, số học và toán học, nói nghe), kỹ năng tư duy (tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề, nhìn thấy trước vần đề, biết cách học và có lý lẽ) và phẩm chất cá nhân (trách nhiệm cá nhân, lòng tự trọng, hòa đồng, tự quản, chính trực). Từ năm 2003, PISA(của các nước OECD – tổ chức hợp tác và phát triển quốc tế) đã phát triển khung đánh giá năng lực giải quyết vấn đề để giúp học sinh giải quyết những vấn đề mà họ sẽ gặp phải trong cuộc sống ở ngoài xã 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hội cũng như trong công việc và học tập. Đối với một số thách thức của cuộc sống, học sinh cần phải vận dụng những kiến thức và kỹ năng đã học được trong các môn học để giải quyết những vấn đề liên quan khác.

Các vấn đề sẽ được kết hợp với kiến thức môn học và thường sẽ yêu cầu học sinh đối phó với những tình huống không quen thuộc bằng cách suy nghĩ linh hoạt và sáng tạo. PISA 2003 chú trọng đến khả năng đọc, toán và khoa học được kết hợp bởi một năng lực tổng thể để giải quyết vấn đề trong tình huống thực tế vượt ra ngoài bối cảnh cụ thể của các môn học. Năng lực GQVĐ chủ yếu tập trung vào ba loại tình huống: • Ra quyết định; • Đánh giá và phân tích hệ thống các tình huống; • Giải quyết vấn đề. PISA 2012 tập trung chủ yếu vào việc đánh giá năng lực GQVĐ của cá nhân trên máy tính.

Khung năng lực GQVĐ của PISA tập trung vào ba yếu tố quan trọng đối với việc đánh giá: bối cảnh vấn đề, bản chất vấn đề, và quá trình nhận thức có liên quan trong việc giải quyết vấn đề. Năng lực GQVĐ là một mục tiêu trung tâm trong chương trình giáo dục của nhiều quốc gia. Năng lực GQVĐ cung cấp cơ sở cho việc học tập trong tương lai, tham gia có hiệu quả các hoạt động cá nhân cũng như các hoạt động ngoài xã hội. Học sinh có thể vận dụng linh hoạt những kiến thức đã học để giải quyết vấn đề trong những tình huống mới.

Những nghiên cứu nổi bật của PISA được thực hiện trong việc giải quyết những vấn đề phức tạp, đánh giá năng lực giải quyết vấn đề trên máy tính và đánh giá năng lực GQVĐ trong cuộc sống hàng ngày chứ không chỉ bó hẹp trong kiến thức các môn học. Những nghiên cứu này tạo thuận lợi cho việc hiểu biết và đo lường năng lực GQVĐ của cá nhân. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nghiên cứu ở trong nước về năng lực giải quyết vấn đề Ở Việt Nam cũng có nhiều tác giả nghiên cứu về năng lực, đặc biệt là các nhà tâm lí học như: Trần Trọng Thủy, Phạm Minh Hạc, Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Công Khanh, Bùi Văn Huệ, Nguyễn Huy Tú, Dương Thu Mai, Nguyễn Vũ Bích Hiền… Phạm Minh Hạc (2006), Tiềm năng - Năng lực - Nhân tài, Nghiên cứu con người, số 24.

Tác giả cho rằng năng lực đó là sức người, cá thể và tập thể, hợp thành bởi các tri thức, kỹ năng, thái độ, giá trị và được phát triển lên trình độ cao, phục vụ xã hội đạt thành tựu xuất sắc, nổi bật.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ