Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA NGUYÊN TẮC BÌNH ĐẲNG GIỮA VỢ VÀ CHỒNG TRONG CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 1. Những khái niệm cơ bản về hôn nhân và gia đình 1. Khái niệm và đặc trưng cơ bản của hôn nhân Con người ngay từ khi được sinh ra đời đã hình thành những tình cảm, tình yêu thương như: tình mẫu tử, tình phụ tử,… Khi phát triển lớn lên trong mỗi chúng ta sẽ dần dần xuất hiện thêm nhiều thứ tình cảm khác, như là: tình yêu quê hương, đất nước; tình yêu thương giữa các thành viên trong gia đình (tình yêu con cái đối với cha mẹ, tình yêu của anh chị đối với các em,…). Đặc biệt có một thứ tình cảm rất đặc trưng cần phải nói đến là tình yêu đôi lứa – tình yêu nam nữ.
Tình yêu nam nữ chính là tiền đề cho quan hệ hôn nhân và gia đình sau này. “Trai lớn dựng vợ, gái lớn gả chồng”, hiểu theo nghĩa thông thường thì hôn nhân chính là sự kết hợp giữa một người nam và một người nữ nhằm tạo lập cuộc sống chung với nhau. Theo Từ điền Tiếng Việt: “Hôn nhân là việc nam nữ chính thức lấy nhau làm vợ chồng”.[17] Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định tại khoản 1 Điều 3 như sau: “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn”. Như vậy, theo pháp luật hôn nhân và gia đình thì hôn nhân là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà trên nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện và 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bình đẳng trong khuôn khổ của pháp luật nhằm tạo lập cuộc sống chung với nhau, cùng nhau xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc.
Từ khái niệm trên có thể thấy hôn nhân có các đặc điểm sau đây: Thứ nhất, hôn nhân là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà: Hôn nhân dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là hôn nhân dựa trên sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà, đó là hôn nhân một vợ một chồng được quy định tại các Điều 2, 4 và 10 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Thứ hai, hôn nhân là sự liên kết bình đẳng giữa một người đàn ông và một người đàn bà trên nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện: Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, việc kết hôn của nam và nữ là hoàn toàn do họ tự nguyện quyết định, không bị chi phối bới ý chí của bất kỳ ai và không ai có quyền thực hiện các hành vi gây cản trở cho việc kết hôn đó. Việc kết hôn cũng không bị chi phối bởi vấn đề kinh tế, mà nó được xây dựng dựa trên cơ sở là tình cảm, tình yêu chân chính của nam và nữ. Thứ ba, hôn nhân là sự liên kết bình đẳng giữa vợ và chồng: Khoản 1 Điều 16 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật”.
Kế thừa quy định trên của Hiến pháp, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng đã có quy định về quyền bình đẳng giữa vợ và chồng tại Điều 17 như sau: “Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mặt trong gia đình, trong vi các quyền, nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp, Luật này và các luật khác có liên quan”. Thứ tư, hôn nhân là sự liên kết của vợ chồng nhằm sống chung suốt đời với nhau, cùng nhau xây dựng gia đình tiến bộ, ấm no, hạnh phúc: Tính chất “bền vững suốt đời” là đặc trưng của hôn nhân thời kỳ xã hội chủ nghĩa. Khi yêu nhau, vợ chồng đều hướng tới mục tiêu sống chung suốt đời, gắn bó, hòa thuận với nhau. Thứ năm, hôn nhân là sự liên kết của vợ chồng theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình: Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định một cách đầy đủ, chi tiết về điều kiện kết hôn.
Nam, nữ có quyền tự do kết hôn, tuy nhiên khi thực hiện quyền này thì phải nằm trong khuôn khổ các điều kiện về kết hôn mà pháp luật đề ra. Khái niệm và các chức năng cơ bản của gia đình Theo Từ điển Tiếng Việt: “Gia đình là tập hợp người sống chung thành đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, thường bao gồm: vợ chồng, cha mẹ và con cái”.[17] Theo Từ điển Chủ nghĩa Cộng sản Khoa học: “Gia đình là một hình thái cộng đồng những người gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và quan hệ máu mủ”.[18] 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về gia đình tại khoản 2 Điều 3 như sau: “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật này”. Như vậy, có thể thấy khái niệm gia đình được hiểu dưới những góc độ khác nhau: - Dưới góc độ xã hội: Gia đình chính là tế bào nhỏ nhất hình thành nên xã hội, là một bộ phận không thể tách rời của xã hội; - Dưới góc độ pháp lý: Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hay là quan hệ nuôi dưỡng làm phát sinh các quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Gia đình được hình thành khi một trong các sự kiện sau đây xảy ra: sự kiện kết hôn, sự kiện sinh con hay sự kiện nhận nuôi con nuôi,… Với vai trò là một tế bào cấu thành nên xã hội nên gia đình sẽ thực hiện các chức năng xã hội của mình: chức năng sinh đẻ, chức năng kinh tế và chức năng giáo dục.
Thứ nhất, gia đình có chức năng sinh đẻ: Đây là một chức năng rất quan trọng của gia đình, giúp tái sản xuất ra con người, quyết định đến sự tồn tại cũng như phát triển của toàn xã hội. Chức năng này của gia đình sẽ đảm bảo duy trì và phát triển nòi giống, đồng thời đầu tư sức lao động để sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội. Thứ hai, gia đình có chức năng kinh tế: Đất nước ta với nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế gia đình chiếm một tỷ trọng đáng kể và có vai trò quan trọng 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong việc duy trì và phát triển gia đình. Do đó, chức năng kinh tế là một trong những chức năng quan trọng và chủ yếu của gia đình.
Thứ ba, gia đình có chức năng giáo dục: Đây là một chức năng quan trọng, có vai trò quyết định trong việc hình thành và phát triển nhân cách của mỗi con người. Gia đình chính là cái nôi, là trường học đầu tiên giáo dục mỗi con người chúng ta. Gia đình là nơi đào tạo cho con người chúng ta biết yêu thương, biết cư xử, biết lao động và rèn luyện nhân cách, đạo đức. Các nguyên tắc cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2015 với 9 chương, 133 điều đã thể hiện được những điểm tiến bộ rõ nét và tính nhân văn sâu sắc so với các văn bản Luật Hôn nhân và Gia đình những năm về trước, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, xã hội trong giai đoạn mới nhằm nâng cao chất lượng, sự bền vững của hôn nhân và gia đình, các quy định mới thể hiện sự tiến bộ rõ nét của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 so với Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 gồm: Tăng cường bảo vệ quyền con người, Áp dụng tập quán trong hôn nhân và gia đình, Nâng độ tuổi kết hôn của nam và nữ, Không cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính, Quy định chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận, Quy định thêm đối tượng được yêu cầu giải quyết ly hôn, Quy định bạo lực gia đình là căn cứ để ly hôn, Vấn đề chia tài sản phải xét yếu tố lỗi, Hạ độ tuổi hỏi ý kiến của con khi bố mẹ ly hôn, Cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo,… Bất kì một ngành luật nào cũng đều có một hệ thống những nguyên tắc cơ bản ứng với mỗi ngành luật đó, nó đóng vai trò là một khung pháp lý chung được 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com pháp luật ghi nhận, có tác dụng nhằm định hướng, chỉ đạo cho toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật của ngành luật đó.
Nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và Gia đình là những nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo, quán triệt toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình. Những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình được quy định tại Điều 2 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đó là những nguyên tắc sau: 1. Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng. Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.
Xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không phân biệt đối xử giữa các con. Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền về hôn nhân và gia đình; giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ; thực hiện kế hoạch hóa gia đình. Kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam về hôn nhân và gia đình. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Khái niệm và cơ sở pháp lý của nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng 1.