Chương 1 - Cơ sở lý luận về hoàn thiện pháp luật bình đẳng giới trong lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình. Chương 2 - Thực trạng pháp luật Việt Nam về bình đẳng giới trong lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình. Chương 3 - Quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình ở Việt Nam hiện nay. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LĨNH VỰC DÂN SỰ, HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 1.
Nhận thức về giới và bình đẳng giới 1. Khái niệm giới và giới tính Giới và giới tính là hai vấn đề luôn song hành cùng với nhau. Chính sự song hành này mà nhiều khi không có sự phân biệt giữa hai khái niệm giới và giới tính, khiến cho vấn đề trở nên phức tạp, không rành mạch. Chỉ riêng cụm từ nam giới và nữ giới hay nam và nữ về mặt thực tế nhiều khi được sử dụng lẫn lộn, không có sự phân biệt trong hoàn cảnh nào dùng thuật ngữ nào.
Theo SEAGEP [50], giới và giới tính được định nghĩa như sau: Giới tính (sex) là sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam giới và phụ nữ. Sự khác biệt này là không thể thay đổi được. Chỉ có một số khác biệt nhỏ về vai trò của nam và nữ về mặt sinh học và sinh lý trên cơ sở giới tính, ví dụ như việc mang thai, sinh nở và sự khác biệt về sinh lý. Giới (gender) là sự khác biệt về mặt xã hội giữa nam giới và phụ nữ, thể hiện qua các yếu tố như vai trò, thái độ, hành vi ứng xử và các giá trị.
Vai trò giới được biết đến thông qua quá trình học tập và có sự khác nhau theo từng nền văn hóa và thời gian, do vậy giới là yếu tố có thể thay đổi được. Ví dụ, trong truyền thống, nữ thường để tóc dài, nam thường để tóc ngắn, nhưng hiện nay có nhiều phụ nữ cũng để tóc ngắn, còn một số nam giới lại thích để tóc dài. Khác với khái niệm giới tính vốn chỉ đề cập tới sự khác biệt sinh học giữa nam giới và phụ nữ, khái niệm giới đề cập đến những khác biệt về mặt xã hội do con người tạo ra. Những quan niệm về giới luôn nảy sinh từ tính chất của các quan hệ xã hội và của những hình thái tổ chức xã hội khác nhau [56].
Bản chất xã hội của giới được thể hiện rõ qua sự khác nhau giữa các đặc 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tính và các hoạt động được coi là của nam và nữ trong các nền văn hoá khác nhau, thậm chí giữa các tầng lớp xã hội và các nhóm dân tộc khác nhau trong cùng một nền văn hoá [36]. Nói tóm lại, thuật ngữ giới tính chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt sinh học. Sự khác biệt này chủ yếu liên quan đến quá trình tái sản xuất và duy trì nòi giống. Còn thuật ngữ giới là khái niệm chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt xã hội.
Nói đến giới là nói về vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quan niệm hoặc quy định cho nam và nữ. Khi sinh ra, con người chưa có trong bản thân những đặc tính giới mà họ tiếp thu được từ giáo dục, nề nếp gia đình, quy ước của xã hội và chuẩn mực của nền văn hóa. Vì vậy, giới phản ánh mặt xã hội của nam và nữ, thể hiện qua vai trò tham gia các quan hệ xã hội của nam và nữ, còn giới tính chỉ tính sinh học của giống đực và giống cái, là sự phân biệt giữa nam và nữ về góc độ sinh sản .Các đặc điểm và vai trò giới Những khác biệt về mặt sinh học giữa nam và nữ là không thể thay đổi được. Giới tính là bẩm sinh và đồng nhất, nam và nữ khắp nơi trên thế giới dù ở nền văn hóa nào cũng đều có chức năng tự nhiên, cơ quan sinh sản giống nhau, không thể thay đổi được và cũng không thể chuyển hóa cho nhau bởi điều này do các yếu tố sinh học quyết định.
Sinh ra là đàn ông hay đàn bà thì chúng ta không thể lựa chọn và không thể thay đổi được điều đó. Tuy nhiên, xét về mặt xã hội, có những đặc điểm có thể hoán đổi cho nhau giữa nam và nữ, những đặc điểm này thuộc về khía cạnh giới, ví dụ như phụ nữ cũng có thể mạnh mẽ và quyết đoán hay cũng có thể trở thành lãnh đạo chính trị như nam giới; ngược lại, nam giới cũng có thể làm đầu bếp, nhân viên đánh máy, thư ký như các công việc mà phụ nữ thường làm… Những đặc điểm có thể hoán đổi đó là do những khái niệm, nếp nghĩ và tiêu chuẩn mang tính chất xã hội mà thay đổi theo thời gian, không gian. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Giới phản ảnh sự khác biệt giữa nam và nữ về khía cạnh xã hội. Những sự khác biệt này là do các quá trình xã hội mà thành, có tính đa dạng và có thể thay đổi, trong khi các quá trình tự nhiên của giới tính vẫn bất biến.
Sự khác biệt về giới thay đổi theo thời gian và theo không gian, từ nước này sang nước khác, từ nền văn hoá này sang nền văn hoá khác, phụ thuộc vào bối cảnh cụ thể của các xã hội, do các yếu tố văn hoá, lịch sử, tôn giáo, kinh tế quyết định. Minh chứng rõ nhất cho điều này là địa vị của người phụ nữ trong các xã hội phương Đông, phương Tây là khác nhau; trong văn hóa Phật giáo, Hồi giáo, Thiên chúa giáo. cũng khác nhau; trong xã hội phong kiến khác, trong xã hội tư bản khác. Quá trình thay đổi các đặc điểm về giới cần nhiều thời gian bởi nó đòi hỏi một sự thay đổi trong tư tưởng, nhận thức, thói quen và cách cư xử vốn được coi là mẫu mực của cả xã hội.
Sự thay đổi về mặt xã hội này thường diễn ra chậm, phụ thuộc vào mong muốn và quyết tâm thay đổi của con người. Có những đặc điểm giới lạc hậu nhưng đã tồn tại từ rất lâu cho đến ngày nay nên rất khó xoá bỏ. Trong cuộc sống, nam và nữ đều tham gia vào các hoạt động của đời sống xã hội; tuy nhiên, mức độ tham gia của nam và nữ trong các loại công việc, các bối cảnh cụ thể của xã hội là khác nhau. Điều này do những quan niệm, các chuẩn mực xã hội quy định.
Những công việc mà mỗi giới đảm nhận được gọi là vai trò giới. Đó là tập hợp các hành vi ứng xử mà xã hội mong đợi ở nam và nữ liên quan đến những đặc điểm giới tính và năng lực mà xã hội coi là thuộc về nam giới hoặc thuộc về phụ nữ trong một nền văn hoá. Các yếu tố kinh tế, văn hoá, xã hội là những yếu tố quyết định đến vai trò của mỗi giới. Xét quá trình vận động của xã hội, có thể khái quát vai trò của con người được thể hiện thông qua hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động tái sản 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xuất ra con người và các hoạt động cộng đồng.
Tương ứng với đó, vai trò của mỗi giới cũng sẽ là vai trò sản xuất vật chất, vai trò tái sản xuất, vai trò cộng đồng và quản lý xã hội. Vai trò sản xuất vật chất là các hoạt động làm ra sản phẩm, hàng hoá hoặc dịch vụ để tiêu dùng và trao đổi thương mại. Đây là những hoạt động tạo ra thu nhập, được trả công. Cả phụ nữ và nam giới đều có thể tham gia vào các hoạt động sản xuất, tuy nhiên do những định kiến trong xã hội nên mức độ tham gia của họ đôi khi không như nhau và giá trị công việc họ làm cũng không được nhìn nhận như nhau.
Vì vậy, thường thì trong hoạt động sản xuất vật chất, nam giới làm các công việc nặng nhọc và được hưởng mức thù lao cao hơn, phụ nữ thường làm các hoạt động đơn giản với mức thù lao thấp hơn. Điều này đã tạo ra định kiến xã hội là công sức lao động của phụ nữ không được coi trọng và được trả với mức thù lao rẻ mạt. Dần dần phụ nữ cũng đảm nhận được các hoạt động sản xuất vật chất như nam giới nhưng chính các định kiến xã hội đã làm cho việc trả thù lao của họ so với nam giới ở cùng công việc tương ứng là thấp hơn và rẻ mạt hơn. Mặt khác, do vai trò giới tính là nam giới thực hiện vai trò thụ tinh để nữ giới sinh con, tức là nam chỉ tham gia vào một giai đoạn của quá trình sinh sản, các giai đoạn còn lại do nữ đảm nhiệm.
Về mặt tự nhiên, sức khỏe của nam thường là cao hơn nữ. Chính những điều này đã dẫn đến tình trạng phổ biến sử dụng sức lao động nam trong hoạt động sản xuất vật chất, tức là nam giới tham gia trực tiếp vào hoạt động sản xuất vật chất và sự tham gia này là phổ biến. Hoạt động sản xuất vật chất rất được xã hội đánh giá cao và thường được nhìn nhận do nam giới thực hiện, ít có sự đóng góp của phụ nữ. Vai trò tái sản xuất là các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
giúp tái sản xuất dân số và sức lao động bao gồm sinh con, các công việc chăm sóc gia đình, nuôi dạy và chăm sóc trẻ, nấu ăn, dọn dẹp, giặt giũ, chăm 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sóc sức khoẻ gia đình… Những hoạt động này là thiết yếu đối với cuộc sống con người, đảm bảo sự phát triển bền vững của dân số và lực lượng lao động. Tuy nhiên, hoạt động này tiêu tốn nhiều thời gian nhưng không trực tiếp tạo ra thu nhập. Do đó, hoạt động này thường không được xem là một công việc chính, mà có chăng chỉ là công việc phụ trợ, được làm miễn phí. Trong quan niệm xã hội, các hoạt động như vậy thường không được coi trọng và đánh giá cao.
Đặc biệt, vai trò này thường do hầu hết phụ nữ và trẻ gái đảm nhiệm. Điều này dẫn đến vai trò của nữ giới, tức phụ nữ và trẻ em gái không được nhìn nhận một cách công bằng với nam giới, và là nguyên nhân chính dẫn đến bất công bằng, bất bình đẳng về giới. Vai trò cộng đồng và quản lý xã hội là tổ hợp các hoạt động mang tính cộng đồng của xã hội từ những hoạt động tham gia với tính chất tình nguyện, tự nguyện như cứu trợ, phòng chống thiên tai.