Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA PHỤ NỮ TRONG HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 1. Khái niệm và các đặc trưng cơ bản về lĩnh vực hôn nhân và gia đình 1. Khái niệm hôn nhân và gia đình Hôn nhân và gia đình là hai khái niệm thƣờng đi cùng nhau. Tuy nhiên điều này không có nghĩa là chúng tƣơng đồng với nhau dù chúng có mối tƣơng quan chặt chẽ.
Hôn nhân là sự kết hợp giữa ngƣời đàn ông và ngƣời đàn bà trên nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện. Tại các nƣớc theo hệ thống pháp luật Anh – Mỹ (Common law), phổ biến một khái niệm cổ điển mang quan niệm truyền thống về hôn nhân của Cơ đốc giáo, do Lord Penzance đƣa ra trong phán quyết về vụ án Hyde v Hyde (1866): “Hôn nhân là sự liên kết tự nguyện suốt đời giữa một người đàn ông và một người đàn bà, mà không vì mục đích nào khác”[89]. Ngoài khái niệm trên, hiện nay, một số luật gia ở Châu âu và Mỹ quan niệm: “Hôn nhân là sự liên kết pháp lý giữa một người nam và một người nữvới tư cách là vợ chồng” [90] hoặc: “Hôn nhân là hành vi hoặc tình trạng chung sống giữa một người nam và một người nữ với tư cách là vợ chồng”. Trong pháp Luật HN & GĐ Việt Nam hiện hành, khái niệm hôn nhân đã đƣợc nhà làm luật và các nhà nghiên cứu luật học quan tâm hơn.
Luật HN & GĐ năm 2000 qui định: “hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn” (Điểm 6 Điều 8). Còn theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học của trƣờng Đại học Luật Hà nội hôn nhân đƣợc hiểu là: “sự liên kết giữa người nam và người nữ dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, theo điều kiện và trình tự nhất định, nhằm chung sống với nhau suốt đời và xây dựng gia đình hạnh phúc và hoà thuận” [77]. Hôn nhân đƣợc định nghĩa khác nhau nhƣng đều có điểm chung là dựa trên nguyên tắc bình đẳng và tự nguyện. Đây là sự tạo lập cuộc sống chung hoàn toàn của nam và nữ gồm những thành phần vật chất: cùng mái nhà, hƣởng chung những sung sƣớng vật chất, góp tiền vào quỹ chung trang trải cuộc sống gia 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đình… và thành phần tinh thần: chia sẻ niềm vui nỗi buồn, góp sức xây dựng gia đình hạnh phúc.
Hôn nhân thƣờng diễn ra các nghi thức để chính thức hóa mối quan hệ giữa một hoặc nhiều nam và nữ. Hôn nhân là sự tán thành về mặt xã hội về "sự hợp nhất" giữa một nam và một nữ, phổ biến nhất, tuy nhiên ở một số nƣớc quy định khác nhƣ kết hôn giữa một nam và nhiều nữ (đất nƣớc Hồi Giáo) hoặc các dạng khác nhƣ hôn nhân đồng tính. Thƣờng thì hôn nhân thƣờng đƣợc hiểu là sự thiết lập của mối quan hệ có tính vĩnh viễn. Nhƣ vậy, khác với gia đình hôn nhân chỉ với tƣ cách là một quan hệ xã hội.
Hôn nhân đƣợc coi nhƣ cơ sở cho sự hình thành của gia đình. Nhƣ vậy, có thể hiểu, hôn nhân là sự hợp nhất của hai cá thể trên cơ sở tự nguyện, tiến bộ đƣợc pháp luật công nhận qua nghi lễ truyền thống và thủ tục bắt buộc, quy định quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong quá trình chung sống. Từ điển Chủ nghĩa cộng sản khoa học nêu khái niệm gia đình là: “một hình thức cộng đồng những người gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và quan hệ máu mủ” [76]. Năm 1992, Liên hợp quốc nhấn mạnh: gia đình là một thể chế có tính chất toàn cầu.
Thể chế đó có những hình thức khác nhau và thực hiện những chức năng cũng khác nhau khi xã hội loài ngƣời chuyển từ nền văn minh này sang nền văn minh khác. Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2000: “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau”. Gia đình là một đơn vị xã hội đƣợc đánh dấu bởi sự hợp tác kinh tế, tái sinh sản, nuôi dạy trẻ và có cùng một nơi cƣ trú. Gia đình thƣờng bao gồm một hoặc nhiều thành viên nam nữ trƣởng thành, có mối quan hệ đƣợc xã hội chấp nhận.
Nhƣ vậy, hiểu cách chung nhất, gia đình là thiết chế xã hội liên kết các thành viên có chức năng duy trì nòi giống, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ và các thành viên có quyền và nghĩa vụ với các thành viên khác, được nhà nước và xã hội thừa nhận. Hôn nhân và gia đình là thiết chế cơ sở, đặc thù của xã hội Gia đình với tƣ cách là thiết chế xã hội đặc thù có một vị trí và vai trò quan trọng trong việc gìn giữ và bảo vệ các giá trị văn hoá. Gia đình là nơi tiếp nhận, kế 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thừa và chuyển giao những truyền thống tốt đẹp của một dân tộc từ thế hệ này sang thế hệ khác. Điều này còn thể hiện, bộc lộ ở mỗi thành viên và thế hệ thành viên trong việc “giao thoa” của mỗi cá nhân và mỗi gia đình.
Thông qua hoạt động, tổ chức của đời sống trong gia đình và của gia đình, mỗi cá nhân và gia đình tiếp nhận, chịu sự tác động và phản ứng lại đối với những tác động của xã hội, thông qua các chính sách, thiết chế…của xã hội. Mới đây, trong Quyết định số 629/QĐ-TTg của Thủ tƣớng Chính phủ ngày 29 tháng 5 năm 2012, phê duyệt Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030 đã xác định rõ những quan điểm về gia đình và xây dựng gia đình: 1. Gia đình là tế bào của xã hội, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp, chống lại các tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc là một trong các mục tiêu quan trọng của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020, đồng thời cũng lá trách nhiệm của mọi gia đình trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Ưu tiên, tạo điều kiện để các gia đình khu vực nông thôn, miền núi, khu vực khó khăn, đặc biệt khó khăn nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống. Hôn nhân tạo nên các mối quan hệ, mang tính tự nguyện và bền vững, hình thành trách nhiệm giữa vợ và chồng Hôn nhân tạo dựng mạng lƣới quan hệ xã hội không chỉ giữa những ngƣời kết hôn với nhau mà rộng lớn hơn thế. Hôn nhân tạo nên các mối quan hệ mới giữa họ hàng ngƣời chồng và họ hàng ngƣời vợ. Các quan hệ này đƣợc gọi là các quan hệ thông gia (quan hệ tạo nên qua hôn nhân) và tƣơng phản với quan hệ huyết thống “ruột thịt”.
Chỉ riêng quan hệ tính giao không tạo nên quan hệ với họ hàng bên chồng hay bên vợ, cũng không tạo nên quy tắc để xác định tƣ cách thành viên của con cháu trong nhóm xã hội nào đó. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hôn nhân là quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, do đó việc thể hiện ý chí ƣng thuận giữa các bên trong hôn nhân là một trong các điều kiện căn bản để hôn nhân có hiệu lực. Hiện nay, pháp luật về hôn nhân và gia đình của các nƣớc đều ghi nhận: Không có hôn nhân khi không có sự tự nguyện. Bên cạnh đó, hôn nhân có tính bền vững (tính chất suốt đời).
Hôn nhân đƣợc xây dựng trên yếu tố tình cảm giữa các chủ thể và hôn nhân có mục đích là xây dựng gia đình (gia đình thƣờng bắt đầu từ hôn nhân, từ quan hệ vợ chồng về tình cảm mà phát sinh các quan hệ giữa cha mẹ và con, quan hệ giữa anh, chị, em…) đó là những điều kiện đảm bảo cho sự liên kết hạnh phúc, bền vững trong hôn nhân, hôn nhân có bền vững thì gia đình và xã hội mới ổn định và phát triển. Pháp luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam luôn coi trọng tính bền vững của hôn nhân, vì truyền thống gia đình Việt Nam và xuất phát từ vai trò hôn nhân là cơ sở: xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững (Điều 1 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000). Hôn nhân chỉ đƣợc coi là hợp pháp một khi, bên cạnh việc thoả mãn các điều kiện khác về kết hôn, nó thực sự là kết quả của việc trao đổi sự ƣng thuận giữa hai ngƣời về việc kết hôn và xây dựng cuộc sống chung. Bắt đầu từ đây, hôn nhân hình thành trách nhiệm giữa vợ và chồng.
Theo đó, vợ chồng có nghĩa vụ yêu thƣơng, cùng nhau xây dựng gia đình. Cha mẹ phải có nghĩa vụ nuôi nâng chăm sóc con cái, quan hệ mà ngƣời cha mẹ và con cái có quyền đòi hỏi lẫn nhau về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm liên quan đến địa vị xã hội, tài sản…, chỉ đƣợc xác nhận qua hôn nhân. Chỉ khi đã xác lập kết hôn, vợ chồng có nghĩa vụ trong việc định đoạt tài sản chung và tài sản riêng. Gia đình có chức năng kinh tế, giáo dục và duy trì nòi giống Gia đình là nơi tái sản sinh con ngƣời, cung cấp thành viên, nguồn nhân lực cho gia đình và xã hội.
Chức năng này bao gồm các nội dung cơ bản: tái sản xuất, duy trì nòi giống, nuôi dƣỡng nâng cao thể lực, trí lực bảo đảm tái sản xuất nguồn lao động và sức lao động cho xã hội. Theo dòng văn hóa, ở mỗi thời đại, việc sinh sản của gia đình có những hệ quả nhận thức khác nhau về giới tính, số lƣợng con 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngƣời. Mặt khác, sự sinh sản trong gia đình giúp cho việc xác định nguồn cội của con ngƣời, từ đó tránh nạn quần hôn, góp phần tạo nên tôn ty gia đình, trật tự xã hội, đảm bảo các điều kiện cơ bản cho nòi giống phát triển. Ngày nay, khoa học sinh sản phát triển cao nhƣng sinh sản tự nhiên trong gia đình vẫn là ƣu thế bởi đó là điều kiện cơ bản để bảo vệ nòi giống ngƣời, là cơ sở, nền tảng cho mỗi ngƣời tham gia vào đời sống xã hội vì sự phát triển.
Bên cạnh chức năng duy trì nòi giống, chức năng kinh tế cũng là một chức năng nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển của mỗi gia đình, góp phần vào sự phát triển toàn xã hội.