Mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dẫn lời của bản Tuyên ngôn độc lập của Mĩ và bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp để khẳng định quyền tự do, bình đẳng của dân tộc Việt Nam. Bình đẳng dân tộc trong quan niệm của Hồ Chí Minh khác xa bình đẳng của giai cấp tư sản. Những gì mà giai cấp tư sản đã làm đối với các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc chỉ là lời nói chứ không hề có trong thực tế. Ngược lại Hồ Chí Minh cho rằng bình đẳng dân tộc không chỉ được cụ thể hoá về mặt pháp lý mà 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quan trọng hơn là phải được thực hiện trong thực tế.
Và chính Người đã thực hiện điều đó. Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt chính phủ Việt Nam khẳng định, các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam đều bình đẳng và Chính phủ sẽ hết sức giúp đỡ các dân tộc thiểu số về mọi mặt. Ngay sau đó, trong Chính phủ, Nha dân tộc thiểu số đã được thành lập “để săn sóc cho tất cả đồng bào”. Hai là: Bình đẳng dân tộc gắn bó mật thiết với sự nghiệp giải phóng con người, gắn với cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân.
Quyền bình đẳng dân tộc thực chất là quyền bình đẳng của con người trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, và mục tiêu lớn lao đó chỉ có thể bắt đầu bằng cuộc cách mạng tư sản dân quyền. Trong cuộc cách mạng đó, Người đặt quyền lợi quốc gia cao hơn hết, mục tiêu độc lập dân tộc của cả dân tộc Việt Nam phải được thực hiện trước tiên, trong lúc các nhiệm vụ, các mục tiêu khác phải phục tùng và thực hiện từng bước, tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc dọn đường cho cách mạng xã hội chủ nghĩa. Người chỉ ra rằng, độc lập dân tộc trở thành mục tiêu hàng đầu của cách mạng Việt Nam, là điều kiện tiên quyết cho dân tộc ta được quyền sống bình đẳng với các dân tộc khác trên thế giới, đồng thời các dân tộc khác trong nước ta được chung sống bên nhau một cách bình đẳng. Khi quốc gia dân tộc bị thống trị bởi đế quốc ngoại bang thì các quyền của mỗi dân tộc cũng bị chà đạp.
Do đó, không giành được độc lập dân tộc thì cũng không thể nói tới việc thực hiện bình đẳng dân tộc. Một trong những tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh là: “Không có gì quý hơn độc lập tự do” được thể hiện nổi bật trong những thời điểm có tính bước ngoặt của lịch sử. 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năm 1941, Người về nước cùng Đảng trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Người chỉ rõ: “Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia, dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được” [15, tr.
Trong “Tuyên ngôn độc lập ” năm 1945, sau khi trích tuyên ngôn nhân quyên của cách mạng tư sản Pháp, tuyên ngôn độc lập của nước Mĩ “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng… trong các quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc… ”, Người viết tiếp: “suy rộng ra câu ấy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng, quyền tự do… Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Trong phần cuối của bản “Tuyên ngôn độc lập”, một lần nữa Người nhấn mạnh: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và nghị lực, tính mạng và tài sản để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy” [22, tr. Qua bản “Tuyên ngôn độc lập”, Người khẳng định, qua cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở Việt Nam gắn liền với cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng con người, thực hiện quyền tự do, bình đẳng, dân chủ cơ bản cho mọi người, cho mọi dân tộc. Gắn độc lập dân tộc với tự do, bình đẳng của con người, bảo vệ các quyền dân tộc cơ bản và quyền cơ bản của con người.
“Tuyên ngôn độc lập” của Người được coi là bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền chung của dân tộc. Năm 1946, trong lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Hồ Chí Minh lại viết: “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năm 1966, khi Đế quốc Mĩ mở rộng cuộc chiến tranh bằng không quân, hải quân ra miền bắc nước ta, Hồ Chí Minh kêu gọi: “Chiến tranh có thể kéo dài năm năm, mười năm, hai mươi năm hoặc lâu hơn nữa… nhân dân Việt Nam quyết không sợ… không có gì quý hơn độc lập tự do” [23, tr. Lời nói bất hủ đó đã trở thành chân lý của thời đại.
Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền độc lập dân tộc bao hàm nhiều nội dung sâu rộng. Trước hết đó là thoát khỏi ách đô hộ của chế độ thực dân đế quốc, đó là độc lập thật sự và hoàn toàn bao gồm chủ quyền quốc gia về chính trị, kinh tế, ngoại giao, an ninh quốc phòng và toàn vẹn lãnh thổ. Người coi đó là quyền bất khả xâm phạm. Lập trường quan điểm đó của Người được Đảng cộng sản và nhân dân Việt Nam thực hiện một cách kiên quyết, triệt để trong mọi giai đoạn cách mạng, nhằm giữ vững độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ, tiến lên xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên đất nước Việt Nam.
Để thực hiện được sứ mệnh lịch sử và quan điểm dân tộc nói trên, Hồ Chí Minh đã chủ trương đoàn kết các dân tộc trên nguyên tắc bình đẳng, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau, đấu tranh giành độc lập tự do và hạnh phúc cho từng dân tộc, từng gia đình, từng con người Việt Nam. Trong suốt quá trình cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi sự bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc trong nước. Người khẳng định, đoàn kết các dân tộc là cốt lõi của chủ nghĩa yêu nước, là nền tảng chính sách của dân tộc ta. Theo Hồ Chí Minh, bình đẳng thực sự giữa các dân tộc phải được thực hiện trên tất cả các mặt: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội.
Thực hiện quyền bình đẳng một cách đầy đủ, các dân tộc phải nâng cao đời sống vật chất, văn hoá, đồng bào phải giác ngộ về quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Cơ sở vững chắc cho sự bình đẳng trước hết là sự phát triển mạnh mẽ, đồng đều về kinh tế trên khắp các vùng dân tộc. Người thường xuyên nhắc 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhở cán bộ, đảng viên phải tôn trọng và tạo điều kiện phát huy quyền làm chủ của nhân dân các dân tộc. Xuất phát từ yêu cầu của công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, trên cơ sở đánh giá đúng vai trò của miền núi, đề ra chiến lược và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, văn hoá, Người coi sự giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc là điều kiện để thực hiện đoàn kết và bình đẳng thực sự.
Chế độ xã hội chủ nghĩa là chế độ do nhân dân lao động làm chủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn động viên và khích lệ đồng bào các dân tộc phải ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm đẩy mạnh mọi mặt công tác. Người hết sức chú ý đến việc phát huy tinh thần tương trợ giúp đỡ nhau trong cả nước để nhanh chóng đưa miền núi và đồng bào các dân tộc thiểu số thoát khỏi cảnh đói nghèo, lạc hậu, từng bước cải thiện đời sống, phát triển sản xuất để đồng bào có được đời sống vật chất cùng như tinh thần đầy đủ hơn, no ấm hơn. - Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về bình đẳng dân tộc.
Đối với Đảng cộng sản Việt Nam, nhờ nắm vững và vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, Đảng và Nhà nước ta ngay từ ngày đầu thành lập cho đến nay luôn có sự đầu tư nhiều hơn về trí tuệ để đổi mới chính sách, nội dung, hình thức tổ chức và thực hiện chính sách dân tộc nói chung, chính sách đối với đồng bào các dân tộc ít người nói riêng để từng bước khắc phục sự khác biệt về mọi mặt đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội giữa các dân tộc. Vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc, trong đó quan điểm đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc cũng như chủ trương, biện pháp cụ thể nhằm thực hiện thắng lợi, đoàn kết, bình đẳng giữa các dân tộc được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Quan điểm đó được thể hiện cụ thể trong văn kiện 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc, trong các chỉ thị, nghị quyết của Bộ chính trị, của Ban bí thư Trung ương Đảng cũng như của chính phủ. Trong Nghị quyết của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 11 năm 1939 và Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ VIII của Đảng cộng sản Đông Dương tháng 5/1941 đã đề ra những chính sách, chủ trương cụ thể nhằm ổn định, củng cố phong trào cách mạng, nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chiến lược do cương lĩnh của Đảng đề ra “Độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội”.
Trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ VIII đã xác định: “Các dân tộc sống trên cõi Đông Dương sẽ tùy theo ý muốn, tổ chức thành liên bang cộng hoà dân chủ hay đứng riêng thành một dân tộc, quốc gia tuỳ ý”.