Chương 1: Biểu tượng cá trong ca dao dân tộc Kinh Chương 2: Biểu tượng cá trong ca dao một số dân tộc thiểu số vùng núi phía bắc Chương 3: So sánh biểu tượng cá trong ca dao dân tộc Kinh và một số dân tộc thiểu số vùng núi phía bắc. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 BIỂU TƢỢNG CÁ TRONG CA DAO DÂN TỘC KINH 1. Giới thuyết một số khái niệm 1. Khái niệm ca dao, dân ca Thuật ngữ ca dao, dân ca được các nhà nghiên cứu hiểu theo các nghĩa rộng hẹp khác nhau.
Chúng tôi sẽ điểm qua một số cách hiểu về ca dao, dân ca như sau: - Tác giả Vũ Ngọc Phan trong cuốn Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam đã định nghĩa về ca dao, dân ca như sau: “Ca dao là một loại thơ dân gian có thể ngâm được như các loại thơ khác và có thể xây dựng thành các điệu dân ca” và “Dân ca là câu hát đã thành khúc điệu. Dân ca là những bài hát có nhạc điệu nhất định”. Tác giả Vũ Ngọc Phan cũng cho rằng “dùng một bài ca dao để hát thì bài ca dao đó sẽ biến thành dân ca” [57, tr. - Tác giả Nguyễn Xuân Kính trong cuốn Thi pháp ca dao đã viết: “Ca dao là những sáng tác văn chương được phổ biến rộng rãi, được lưu truyền qua nhiều thế hệ, mang những đặc điểm nhất định và bền vững về phong cách.
Và ca dao đã trở thành một thuật ngữ dùng để chỉ một thể thơ dân gian. Đối với ca dao, người ta không chỉ hát mà còn ngâm, đọc và xem bằng mắt thường”[34, tr. - Tác giả Cao Huy Đỉnh cho rằng: “Ngày xưa phần lớn ca dao trữ tình làm ra để hát. Rồi từ những bài hát lại có những câu được tách ra thành ca dao.
Ca dao sinh ra, còn lại, truyền đi và biến đổi chủ yếu là thông qua sinh hoạt dân ca. Chính vì vậy mà trên phần lớn ca dao trữ tình còn in rõ khuôn dấu dân ca. Khuôn dấu ấy là lời đối đáp các kiểu hát tập thể của dân tộc ta”[30, tr. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, chúng ta có thể hiểu ca dao và dân ca có mối quan hệ gắn bó khăng khít với nhau, nhắc đến ca dao là nói đến phần lời còn dân ca chính là ca dao nhưng có thêm các làn điệu, tiếng đệm, thể thức hát nhất định.
Khái niệm biểu tượng Hiện nay, trên thế giới và ở Việt Nam có nhiều khái niệm về biểu tượng. Chúng tôi chỉ xin trích dẫn một số khái niệm: Theo Freud: “Biểu tượng diễn đạt một cách gián tiếp, bóng gió và ít nhiều khó nhận ra, niềm ham muốn hay các xung đột. Biểu tượng là mối liên kết thống nhất nội dung rõ rệt của một hành vi, một tư tưởng, một lời nói với ý nghĩa tiềm ẩn của chúng…Khi ta nhận ra, chẳng hạn trong một hành vi, ít nhất là có hai phần ý nghĩa mà phần này thế cho phần kia bằng cách vừa che lấp vừa bộc lộ phần kia ra, ta có thể gọi mối quan hệ giữa chúng là có tính biểu tượng” [7, tr. Từ điển thuật ngữ Văn học cho rằng: “Biểu tượng là một phương thức chuyển nghĩa của lời nói hoặc một loại hình nghệ thuật đặc biệt có khả năng truyền cảm lớn, vừa khái quát được bản chất của hiện tượng nào đấy, vừa thể hiện một quan niệm, một tư tưởng hay một triết lý sâu xa về con người và cuộc đời” [22, tr.
Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Điệp trong Tìm hiểu nguồn gốc biểu tượng trong ca dao Việt Nam cho rằng: “Xét về mặt tu từ học, biểu tượng là những hình tượng ẩn dụ, hay những tượng trưng. Người ta quy ước ngầm với nhau: từ ngữ này có thể được dùng để biểu thị một đối tượng khác ngoài các nội dung ngữ nghĩa thông thường của nó. Trong ca dao, biểu tượng chủ yếu được tạo nên bởi các biện pháp tu từ: so sánh, ẩn dụ, đề dụ, hoán dụ. Những hình ảnh được sử dụng trong các phép tu từ này xuất hiện nhiều lần đến mức khi thoát khỏi các văn cảnh cụ thể, người ta vẫn cảm nhận được ý nghĩa biểu trưng của chúng, lúc đó, ta có các biểu tượng”[52, tr.
18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tác giả Nguyễn Thị Bích Hà trong Nghiên cứu văn học dân gian từ mã văn hóa dân gian quan niệm: “Biểu tượng là một loại tín hiệu riêng, có chiều sâu và phong phú hơn tín hiệu, giữa biểu tượng và cái được biểu trưng thường không có quan hệ phổ biến, liên tục. Nó chính là cái nhìn thấy được để dẫn ta đến với cái không nhìn thấy được, nó là cái được cảm nhận cho ta liên hệ với cái đang còn mơ hồ, khó nắm bắt. Thời gian và không gian làm cho tính biểu tượng mờ đi, khuất lấp nên phải biết chìa khóa (mã) mới khai mở được và hầu như không thể giải mã một lần mà xong”[20, tr. Chúng tôi nhận thấy khái niệm biểu tượng của tác giả Nguyễn Thị Bích Hà là phù hợp nên đã vận dụng khi nghiên cứu đề tài trong luận văn này.
Ngoài ra, chúng tôi cũng tham khảo quan niệm của Carl Gustav Jung về biểu tượng: đơn giản nhất, như khi ta nhìn một từ hoặc một hình vẽ, lập tức lĩnh hội được nhiều hơn hình vẽ đó, vậy thì nó chính là biểu tượng…; hoặc quan niệm của Emil Preetorius: biểu tượng không chỉ biểu hiện bản thân nó mà còn mang một ý nghĩa nào đó…vv. Nguồn gốc biểu tƣợng cá trong ca dao Khi giải mã một biểu tượng, ta cũng phải đặt nó trong một tầng nền lịch sử - văn hóa – xã hội. Tuy nhiên, tìm hiểu cặn kẽ nguồn gốc của từng biểu tượng là một công việc khó khăn và phức tạp. Con đường tìm hiểu biểu tượng trong ca dao thực chất là đi ngược lại thời gian để tìm hiểu những giá trị nhận thức, tư duy của các tộc người cùng với hiện thực khách quan thời họ sinh sống.
Theo sự tìm hiểu bước đầu, chúng tôi nhận thấy biểu tượng cá trong ca dao Việt Nam được hình thành từ các nguồn gốc sau: 1. Xuất phát từ tín ngưỡng, nghi lễ, phong tục, tập quán người Việt Nam Cá từ lâu đã là một ký hiệu văn hóa trong thần thoại và tôn giáo của rất nhiều dân tộc trên thế giới, biểu tượng cho tính dục và sức sinh sản, đồng thời 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cũng là biểu tượng sự sống và sáng tạo, cái chết và tái sinh, lưỡng thể nam – nữ…Theo chúng tôi, hàm nghĩa văn hóa phồn thực cũng chính là nội hàm sâu xa nhất của biểu tượng cá, xuất phát từ đặc thù của loài cá là có nhiều trứng, tỉ lệ sống cao. Người nguyên thủy vốn dĩ sùng bái khả năng sinh sản và từ đó sùng bái Tổ mẫu, vì người nữ đảm trách nhiệm vụ vĩ đại này. Người nguyên thủy thậm chí không thể hiểu được đứa con từ đâu mà có, họ cho rằng do người mẹ tự sinh ra.
Chính sự sùng bái này đã khiến cho cá được đồng hóa với âm hộ nữ với hy vọng phụ nữ có thể có khả năng sinh sản như cá. Từ sùng bái âm hộ, người nguyên thủy chuyển sang sùng bái biểu tượng cho âm hộ - cá. Tuy nhiên đây là một lớp nghĩa cổ mà ngày nay chúng ta chỉ còn thấy dấu vết của nó trong cách nói ám chỉ về “cá diếc” để ngầm chỉ sinh thực khí nữ. Trên nhiều di vật khảo cổ của văn hóa Đông Sơn, ta thấy người Việt đã tạc tượng cá sấu (rồng) giao hợp, ngoài ra còn có các biến thể của cá như ếch/cóc hay các cặp cá- chim/cò; cá - rùa.
Theo ông Nguyễn Minh San, người Phú Thọ - vùng đất tổ của người Việt, trong hội đua thuyền ở xã Đào Xá, huyện Tam Thanh “còn tạo ra biểu tượng riêng, ít thấy ở các nơi khác là con thuyền đực có dáng hình con chim, con thuyền cái có dáng hình con cá” [61, tr. Cá cũng xuất hiện trong tranh Đông Hồ với nhiều màu vẻ sinh động, song không ngoài mục đích mong cầu con cháu đầy đàn, nhân khang vật thịnh. Dân ca Đông Hồ có câu: Hỡi anh đi đường cái quan, Dừng chân ngắm cảnh mà tan nỗi sầu, Mua tờ tranh điệp tươi màu, Mua đàn gà lợn thi nhau đẻ nhiều. Có thể thấy tranh cá không được đưa vào câu dân ca, nhưng lớp nghĩa “đẻ nhiều” thì không khác, và không hề thua kém tranh gà, tranh lợn.
Chịu ảnh hưởng của Nho giáo, thái độ chung của mọi người trong đời sống cũng như trong văn học nghệ thuật là tránh né hoặc nói đến khía cạnh tình dục một cách hết sức thận trọng bằng lối nói ngầm ẩn, ám chỉ một cách 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com công phu, khéo léo. Hàm nghĩa văn hóa phồn thực của cá cũng vì thế mờ dần theo thời gian và bị chồng xếp lên bởi các lớp nghĩa mới. Trong tín ngưỡng của người Việt Nam, cá chép cũng là sứ giả của thần tiên. Hàng năm cứ vào ngày 23 tháng 12 âm lịch, người Việt Nam có phong tục cúng ông Táo.
Cá chép còn được coi là mang lại sự may mắn, theo tác giả Nguyễn Văn Hậu: Hội Đền Và ở xã Trung Hưng, ngoại ô thị xã Sơn Tây cứ 3 năm một lần tổ chức lễ hội cầu ngư, trong lễ hội có dự thi đánh bắt cá. Cá bắt xong, dân làng chọn ra 99 con cá chép to nhất đem chặt lấy đuôi cúng Thần, còn đầu mình trả lại cho chủ. Số cá đánh bắt được chia đều cho các nhà cùng nhau hưởng lộc Thánh [23, tr. Làng kẻ Giáp (xã Tứ Xã - Phong Châu, Phú Thọ) cũng có tục bắt cá thờ vào ngày 11 tháng chạp âm lịch, những con cá ngon nhất được dâng lên tế thần, còn lại chia đều cho mọi người mang về nhà làm cỗ cúng gia tiên với ý nghĩa là món quà đầu xuân của bản làng để lấy may trong năm mới.
Đề tài cá hóa rồng cũng đã có mặt trong các đồ án trang trí từ khá sớm. Vào thời Trần, đề tài cá hóa rồng có mặt trên các di vật ở chùa Côn Sơn, chùa Xuân Lũng. Đề tài này còn được thể hiện thành các tượng nhỏ đặt trên đao mái của tháp mộ thời Trần ở di chỉ Xuân Hồng. Ngày nay, giữa lòng Thủ đô Hà Nội cũng có một một ngôi đền Cá – tức đền thờ Thần Cẩu Nhi, đền thờ Mẫu Thoải (Thủy Trung Tiên – Bà Mẹ Nước) trên hòn đảo giữa lòng hồ Trúc Bạch mà lớp tín ngưỡng thờ cá có lẽ là lớp văn hóa cổ nhất.