Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC BIỆN PHÁP TƢ PHÁP TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. QUAN NIỆM CHUNG VỀ BIỆN PHÁP TƢ PHÁP 1. Khái niệm và các đặc điểm của biện pháp tƣ pháp Khi nghiên cứu lý luận về các biện pháp tư pháp hình sự, việc xem xét khái niệm của nó là hết sức quan trọng, song nếu chỉ nghiên cứu trên khía cạnh lý luận thì chưa đủ, mà cần phải xem xét trên cả khía cạnh pháp luật hình sự thực định cũng như thực tiễn áp dụng. Chúng ta cùng điểm qua một số khía cạnh để xem xét khái niệm cơ bản của các biện pháp tư pháp: * Pháp luật hình sự thực định: Pháp luật hình sự thực định Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 cho đến năm 1986 (pháp điển hóa lần 1) thì chưa xây dựng định nghĩa pháp lý của khái niệm các biện pháp tư pháp hình sự, cũng như chưa từng được ghi nhận về mặt lập pháp.
Pháp điển hóa lần thứ 2 (năm 1999), khái niệm pháp lý của "biện pháp tư pháp" cũng chưa được chính thức ghi nhận trong pháp luật thực định. Như vậy, có thể nói mặc dù các biện pháp tư pháp hình sự là một chế định hết sức quan trọng, song hành cùng hình phạt để hoàn thiện hệ thống chế tài hình sự, nhưng lại chưa được ghi nhận một cách chính thống. Việc chưa đề cập đến nó trên cơ sở pháp luật thực định là một điểm thiếu sót cần được xem xét. * Trong lý luận luật hình sự: Từ trước đến nay trong khoa học luật hình sự của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, khái niệm về các biện pháp tư pháp có rất nhiều tranh 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cãi, ý kiến khác nhau; song vẫn chưa có một quan điểm thống nhất nào, cụ thể là: - Khoa học luật hình sự Việt Nam có một số quan điểm coi các biện pháp tư pháp là: Biện pháp tư pháp hình sự không phải là hình phạt, chỉ có tính chất hành chính, dân sự nhưng được quyết định ngay trong vụ án hình sự.
Ngoài ra các biện pháp được áp dụng chung đối với bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự. "Biện pháp tư pháp hình sự là các biện pháp hình sự được Bộ luật Hình sự quy định, do các cơ quan tư pháp áp dụng đối với người có hành vi nguy hiểm cho xã hội, có tác dụng hỗ trợ hoặc thay thế hình phạt" [30, tr. Như vậy, tổng kết các quan điểm khác nhau về khái niệm các biện pháp tư pháp, đồng thời căn cứ vào quá trình lập pháp, xây dựng hệ thống các quy phạm pháp luật về các biện pháp tư pháp trong pháp luật hình sự Việt Nam, chúng ta có thể đưa ra khái niệm khoa học về các biện pháp tư pháp hình sự: Biện pháp tư pháp là biện pháp cưỡng chế về hình sự của Nhà nước ít nghiêm khắc hơn so với hình phạt, do pháp luật hình sự quy định và được cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền căn cứ vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng cụ thể áp dụng đối với người phạm tội nhằm hạn chế quyền, tự do của người đó, hoặc hỗ trợ hay thay thế cho hình phạt. Từ những quan điểm về khái niệm "Biện pháp tư pháp" và khái niệm khoa học nêu trên, có thể thấy biện pháp tư pháp với tính chất là biện pháp cưỡng chế về hình sự ít nghiêm khắc hơn so với hình phạt, có những đặc điểm cơ bản (dấu hiệu) sau: Đặc điểm thứ nhất: Biện pháp tư pháp là biện pháp cưỡng chế về hình sự ít nghiêm khắc hơn so với hình phạt mà hậu quả pháp lý của việc áp dụng nó là người phạm tội không bị coi là có án tích nếu như biện pháp tư pháp được áp dụng độc lập đối với người đó mà không kèm hình phạt.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thực chất, hình phạt là biện pháp cưỡng chế về hình sự nghiêm khắc nhất của Nhà nước so với tất cả các biện pháp cưỡng chế khác; mà khi áp dụng hình phạt đối với người phạm tội, thì hậu quả pháp lý là người phạm tội sẽ có án tích. Do đó, với tính chất là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước, các biện pháp tư pháp hình sự được áp dụng đồng thời với hình phạt, thì người phạm tội sẽ có hậu quả pháp lý là có án tích; còn nếu như áp dụng độc lập mà không kèm hình phạt (ví dụ như khi người đó được miễn hình phạt, mà chỉ áp dụng biện pháp tư pháp) thì người đó không bị coi là có án tích. Đặc điểm thứ hai: Với tính chất là một dạng của trách nhiệm hình sự và là một hình thức để thực hiện trách nhiệm hình sự trong văn bản của Cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền, biện pháp tư pháp cũng chỉ có thể xuất hiện khi có sự việc phạm tội. Chỉ khi có tội phạm cùng đầy đủ các dấu hiệu của nó, thì mới có thể xác định được trách nhiệm hình sự và mới có thể có biện pháp tư pháp hình sự với tư cách là biện pháp ít nghiêm khắc hơn hình phạt.
Khi xảy ra sự kiện phạm tội, theo quy định pháp luật hình sự, Cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tùy theo giai đoạn tố tụng nhất định (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án) xác định trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong luật hình sự, có lỗi (vô ý hoặc cố ý), đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Trên cơ sở đó, cơ quan tiến hành tố tụng buộc người phạm tội chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình, đồng thời quyết định hình phạt; kèm theo hoặc áp dụng độc lập các biện pháp tư pháp. Nếu không có hành vi phạm tội xảy ra, thì người bị áp dụng biện pháp cưỡng chế khác không phải là biện pháp tư pháp hình sự mà có thể là các biện pháp tư pháp hành chính, dân sự… Đặc điểm thứ ba: Khác với hình phạt, căn cứ vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng cụ thể, biện pháp tư pháp hỗ trợ hình phạt (từ điều 41-43 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bộ luật Hình sự năm 1999) có thể do cơ quan tư pháp hình sự khác có thẩm quyền như là Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án… áp dụng đối với người phạm tội nói chung (kể cả người bị kết án); còn với các biện pháp tư pháp thay thế hình phạt (Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 1999), thì chỉ có thể do Tòa án áp dụng với người bị kết án nói riêng. Việc áp dụng các biện pháp tư pháp hình sự đối với người phạm tội được xác định ở phạm vi rất rộng lớn.
Không như hình phạt, chỉ có thể áp dụng sau khi bị kết án, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có thể bị áp dụng biện pháp tư pháp hình sự ngay từ giai đoạn điều tra khi có dấu hiệu phạm tội; nhưng thực tế, để quyết định việc áp dụng các biện pháp tư pháp hình sự hay không, để xử lý với tài sản bị xâm phạm, hoặc đối với việc bồi thường, xin lỗi công khai, bắt buộc chữa bệnh, thì chỉ có Tòa án là có thẩm quyền. Còn trước đó, những biện pháp này chỉ được áp dụng tạm thời, có thể bị thay đổi sau khi Hội đồng xét xử đưa ra phán quyết cuối cùng. Đặc điểm thứ tư: Biện pháp tư pháp chỉ nhằm hạn chế, chứ không tước đoạt quyền, tự do của người phạm tội; hoặc để hỗ trợ hay thay thế cho hình phạt. Với những trường hợp buộc áp dụng biện pháp tư pháp, thì dù mang tính cưỡng chế, nhưng chỉ hạn chế phần nào quyền lợi của người bị kết án mà không nhằm tước đi quyền, tự do của người phạm tội.
Điều đó được thể hiện rõ ràng nhất ở quy định của từng biện pháp tư pháp hình sự. Ví như biện pháp tư pháp "Giáo dục tại xã, phường thị trấn" người bị áp dụng mặc dù bị hạn chế về quyền lợi (không được ra khỏi nơi cư trú nếu không được sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền) nhưng cũng không hoàn toàn mất đi sự tự do của mình, họ vẫn có quyền đi lại, tham gia các phong trào, hoạt động của tổ chức, xã hội tại nơi cư trú; thậm chí làm ăn, sinh hoạt không khác nhiều so với những người bình thường. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hoặc việc bắt buộc chữa bệnh đối với những người có bệnh lý bị hạn chế về nhận thức hoặc điều khiển hành vi, khiến việc phạm tội của họ không phải là cố ý; mà do bệnh lý khiến họ hành động trái quy định pháp luật. Do đó, việc bắt buộc chữa bệnh, tuy là một trong số những biện pháp tư pháp nhưng lại mang tính chất giúp đỡ người phạm tội có bệnh hơn là trừng phạt; bản thân người bị áp dụng biện pháp này vẫn được sinh hoạt như những người bệnh không phạm tội khác, vẫn có những quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
Việc có áp dụng hình phạt hay biện pháp tư pháp hình sự khác sau khi hoàn tất việc chữa bệnh, sẽ do Hội đồng xét xử xem xét tùy tình huống cụ thể. Đặc điểm thứ năm: Cũng như các biện pháp cưỡng chế khác về hình sự, các biện pháp tư pháp cũng được quy định trong pháp luật hình sự và phải do cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền áp dụng theo một trình tự đặc biệt do luật tố tụng hình sự quy định. Không phải bất cứ Cơ quan nhà nước nào cũng được phép áp dụng các biện pháp tư pháp hình sự; mặc dù một số biện pháp tư pháp hình sự có vẻ giống như biện pháp cưỡng chế hành chính, dân sự (tịch thu tiền, vật trực tiếp liên quan đến tội phạm và tịch thu sung công quỹ; hoặc phạt tiền) nhưng xét về bản chất thì hoàn toàn khác nhau; do đó chỉ có cơ quan tư pháp hình sự mới có quyền xem xét và áp dụng. Đặc biệt, việc xử lý đối với người bị kết án cũng như áp dụng hình phạt và các biện pháp tư pháp hình sự phải do Tòa án xác định trên cơ sở áp dụng pháp luật hình sự; còn các cơ quan tố tụng khác cũng phải tuân thủ đúng trình tự và thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự, pháp luật thi hành án hình sự quy định.