Chương 1: Cơ sở lý luận và thực trạng giảng dạy, học tập văn học sử ở trung học phổ thông. - Chương 2: Những định hướng và biện pháp tổ chức hoạt động của học sinh trong giờ văn học sử. - Chương 3: Thiết kế thể nghiệm. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG GIẢNG DẠY, HỌC TẬP VĂN HỌC SỬ Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.
Khái niệm tích cực hóa. Khác với động vật, con người không chỉ tiêu thụ những gì sẵn có trong tự nhiên mà còn chủ động bằng lao động sáng tạo ra của cải vật chất cần cho sự phát triển xã hội, sáng tạo ra nền văn hóa ở mỗi thời đại. Ngày nay, phát triển tính tích cực là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục nhằm tạo ra những con người năng động, thích ứng và góp phần phát triển cộng đồng. Tính tích cực của con người được biểu hiện trong hoạt động “tính tích cực là trạng thái hoạt động của chủ thể, nghĩa là của con người hành động”.
Tính tích cực của trẻ biểu hiện trong những hoạt động khác nhau: học tập, lao động, thể dục thể thao, vui chơi giải trí,… trong đó học tập là hoạt động chủ đạo của lứa tuổi học đường. Tính tích cực học tập là một hiện tượng sư phạm biểu hiện ở sự cố gắng cao về nhiều mặt trong hoạt động học tập của trẻ. Tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động của học sinh đặc trưng ở khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức. Tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh là một trong những nhiệm vụ của thầy giáo trong nhà trường và cũng là một trong những biện pháp nâng cao chất lượng dạy học.
Tuy không phải là vấn đề mới nhưng trong xu hướng đổi mới dạy học hiện nay thì việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh là một vấn đề được quan tâm. Nhiều nhà giáo dục học trên thế giới đang hướng tới việc tìm kiếm con đường tối ưu nhằm tích cực hóa hoạt 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com động nhận thức của học sinh; nhiều cuộc tranh luận cũng đã và đang đề cập đến lĩnh vực này. Tất cả đều hướng tới việc thay đổi vai trò người dạy, người học nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học và đáp ứng được yêu cầu dạy học trong giai đoạn phát triển mới. Trong đó, học sinh chuyển từ vai trò là người thu nhận thông tin sang vai trò chủ động, tích cực tham gia chiếm lĩnh kiến thức còn thầy chuyển từ người truyền thông tin sang vai trò người tổ chức, hướng dẫn, giúp đỡ để học sinh tự mình khám phá kiến thức mới.
Quá trình tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh sẽ góp phần làm cho mối quan hệ giữa dạy và học, giữa thầy và trò ngày càng gắn bó và hiệu quả hơn. Tích cực hóa vừa là biện pháp thực hiện nhiệm vụ dạy học vừa góp phần rèn luyện cho học sinh những kĩ năng của người lao động mới: tự chủ, năng động, sáng tạo. Đó là một trong những mục tiêu mà nhà trường cần hướng tới. Tích cực hóa hoạt động của học sinh là cách để giáo viên phát hiện những quan niệm sai lệch của học sinh qua đó có biện pháp để khắc phục những hạn chế đó.
Vì thế việc khắc phục những quan niệm của học sinh có vai trò quan trọng trong nhà trường nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh. Phương pháp dạy học tích cực. Phương pháp dạy học tích cực là phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. Phương pháp tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải của người dạy.
Phương pháp dạy học tích cực có những đặc trưng cơ bản sau: Dạy học thông qua các hoạt động của học sinh: PP tích cực dựa trên cơ sở tâm lý cho rằng nhân cách của trẻ được hình thành thông qua các hoạt động có ý thức.Binet xem trí thông minh là hoạt động có chủ định được 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com điều khiển từ nội tâm bằng cách xác lập những mối quan hệ giữa chủ thể với hành động.Piaget cũng quan niệm trí thông minh của trẻ được phát triển nhờ sự đối thoại giữa chủ thể hoạt động với đối tượng và môi trường. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Học để hành, học với hành phải đi đôi. Học mà không hành thì vô ích. Hành mà không học thì không trôi chảy”.
Trong phương pháp tích cực, người học, đối tượng của hoạt động dạy, đồng thời là chủ thể của hoạt động học, được cuốn hút vào các hoạt động do giáo viên tổ chức và chỉ đạo. Thông qua những hoạt động đó, người học khám phá những điều mình chưa biết. Từ đó nắm vững kiến thức, kĩ năng mới đồng thời tìm ra được phương pháp khám phá những kiến thức, kĩ năng đó và bộc lộ được phần sáng tạo của bản thân. Theo phương pháp tích cực, dạy học không chỉ đơn thuần là cung cấp tri thức mà còn phải hướng dẫn hành động.
Chương trình dạy học phải giúp cho từng cá nhân người học biết hành động và tích cực tham gia vào các chương trình hành động của cộng đồng. Dạy học chú trọng rèn luyện phƣơng pháp tự học: PP tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là biện pháp, phương tiện nâng cao hiệu quả dạy học mà trở thành mục tiêu dạy học. Trong một xã hội hiện đại đang phát triển nhanh với sự bùng nổ thông tin, khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão thì việc dạy học không thể chỉ dừng lại ở giới hạn dạy kiến thức mà phải chuyển mạnh sang dạy phương pháp học. Cốt lõi của phương pháp học tập là phương pháp tự học, cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học.
Một yếu tố quan trọng đảm bảo thành công trong học tập và nghiên cứu khoa học là khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề gặp phải. Nếu rèn luyện cho HS có được kĩ năng, phương pháp, thói quen tự học, biết ứng dụng những điều đã học vào những tình huống mới, biết phát hiện và tự lực giải quyết những vấn đề tạo ra thì sẽ khơi dậy ở họ lòng ham học, khơi 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dậy tiềm năng vốn có trong mỗi người. Làm được như vậy, kết quả học tập sẽ tăng lên gấp bội, học sinh có thể tiếp tục tự học khi vào đời, dễ dàng thích ứng với cuộc sống trong xã hội. Dạy học cá thể và dạy học hợp tác: PP tích cực đòi hỏi sự cố gắng trí tuệ và nghị lực cao của mỗi HS.
Năng lực và ý chí của mỗi học sinh trong lớp học không thể đồng nhất, vì vậy có sự phân hóa về cường độ và tiến độ hoàn thành một chuỗi những công tác độc lập dẫn tới hình thành một kiến thức mới. Tuy nhiên, trong học tập không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều có thể được hình thành bằng con đường hoạt động độc lập thuần túy cá nhân. Lớp học là một môi trường giao tiếp tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường đi tới các mục tiêu học tập rèn luyện. Trong lối dạy học thụ động, thầy giữ vai trò quan trọng trong việc truyền thụ thông tin tri thức đến trò.
Trong dạy học tích cực, giao tiếp thầy trò là quan hệ hai chiều, nổi lên quan hệ giao tiếp trò – trò. Thông qua hoạt động trong tập thể nhóm/ lớp, các ý kiến , quan niệm của mỗi cá nhân được điều chỉnh và qua đó, người học nâng mình lên một trình độ mới. Hoạt động trong tập thể sẽ làm cho từng thành viên quen dần với sự phân công hợp tác, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành công việc. Trong hoạt động tập thể, tính cách, năng lực của mỗi cá nhân được bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức kỷ luật, tương trợ lẫn nhau, ý thức cộng đồng.
Đánh giá và tự đánh giá: Trong dạy học, việc đánh giá HS không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và đề ra giải pháp điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn tạo điều kiện nhận định thực trạng và định hướng điều chỉnh. PP tích cực coi trọng vai trò chủ động của người học, coi việc rèn luyện PP tự học để chuẩn bị cho HS năng lực tự học suốt đời như một mục tiêu giáo 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dục thì GV phải hướng HS phát triển kĩ năng tự đánh giá và điều chỉnh cách học. Việc kiểm tra đánh giá không chỉ dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyến khích óc sáng tạo, phát hiện sự chuyển biến thái độ và xu hướng hành vi của HS trước những vấn đề của đời sống gia đình và cộng đồng, rèn luyện khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề trong những tình huống thực tế. Sự phát triển tâm lý, tư duy ở học sinh trung học phổ thông, tạo tiền đề cho việc dạy học VHS theo hướng tích cực hoá hoạt động người học.
Tâm lý học lứa tuổi chia các giai đoạn phát triển tâm lý của học sinh ra làm ba thời kỳ: Thời kỳ tuổi nhi đồng từ 6 đến 11, 12 tuổi; thời kỳ tuổi thiếu niên từ 11,12 đến 14,15 tuổi; thời kỳ đầu tuổi thanh niên từ 14,15 đến 16,17 tuổi. Mỗi thời kỳ có sự phát triển tâm lý đặc trưng riêng. Theo sự phân chia của tâm lý học lứa tuổi học sinh ở THPT là vào độ tuổi đầu thanh niên, ở độ tuổi này các em có sự nhảy vọt về thể xác và tâm hồn. Bên cạnh sự lớn mạnh về thể chất, về nhận thức, về ý thức trách nhiệm và quyền lợi của bản thân thì sự phát triển trí tuệ của học sinh cũng dần dần được nâng cao.
Cùng với mối quan hệ ngày càng được mở rộng, các em tích luỹ thêm những kinh nghiệm sống và khả năng ứng xử, giao tiếp xã hội cũng trở nên phong phú, nhạy cảm hơn. Vì vậy các em không chỉ ý thức về sự phát triển hình thức bên ngoài mà thái độ ý thức của các em đối với việc học tập cũng như nhân cách ngày càng trở nên sâu sắc hơn.