CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ NỢ THUẾ VÀ CƯỠNG CHẾ THUẾ 1. Những vấn đề cơ bản về quản lý nợ thuế 1. Khái niệm nợ thuế và quản lý nợ thuế Thuế ra đời là tất yếu khách quan gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của nhà nước. Khi nhà nước xuất hiện.
Để đảm bảo sự tồn tại và hoạt động của mình, nhà nước phải dùng quyền lực chính trị vốn có để tập trung một phần của cải trong xã hội để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước.Việc huy động, tập trung của cải đó có thể được thực hiện bằng các cách khác nhau. Trong đó có hình thức đóng góp bắt buộc được gọi là thuế [11]. Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze trong cuốn “Tài chính công” đưa ra một định nghĩa tương đối cổ điển về thuế: “ Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà Nước.” Một trong những đặc trưng quan trọng của thuế là mang tính pháp lý cao. Tuy nhiên trong thực tiễn do nhiều lý do khác nhau.
Người nộp thuế chưa nộp hoặc không nộp thuế cho nhà nước theo thời hạn quy định. Từ đó hình thành nên khoản nợ thuế. Nợ thuế là số tiền được xác định phải nộp cho nhà nước theo quy định của pháp luật nhưng chưa được nộp vào ngân sách nhà nước. Người nợ thuế là các tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng nộp thuế còn nợ các khoản thuế, phí, lệ phí và các khoản phải nộp khác theo quy định tại văn bản quy phạm pháp luật.
Mức nợ thuế là số tiền thuế còn nợ của người nợ thuế tại một thời điểm. ở một ngưỡng nào đó khi phân loại nợ thuế. 5 Như vậy để đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời tiền thuế vào ngân sách nhà nước (NSNN) thì công tác quản lý nợ thuế là công tác quan trọng trong công tác quản lý thuế. Quản lý nợ thuế là công việc theo dõi, nắm bắt thực trạng nợ thuế và các khoản thu khác do cơ quan thuế quản lý và thực hiện các biện pháp đôn đốc thu hồi số thuế nợ của người nộp thuế.
Ngoài ra, để đảm bảo tuân thủ nghĩa vụ nộp thuế, thực hiện nghiêm kỷ cương, kỷ luật về thuế. Nhà nước quy định những hành vi nợ thuế phải nộp phạt một khoản tiền do chậm nộp thuế gọi là tiền chậm nộp thuế. Tiền chậm nộp thuế là khoản tiền phạt được tính trên số tiền thuế nợ và số ngày nợ thuế của một khoản nợ [1]. Số ngày nợ thuế của một khoản nợ là khoảng thời gian liên tục tính theo ngày kể từ thời điểm bắt đầu tính nợ đến thời điểm số tiền nợ đó được nộp vào ngân sách nhà nước.
Đặc điểm của nợ thuế 1. Nợ thuế là một hành vi tâm lý phổ biến Nhìn theo góc độ phân phối sản phẩn xã hội. Thuế là một hình thức phân phối lại thu nhập có tính chất bắt buộc mà NNT có nghĩa vụ phải nộp cho nhà nước. Như vậy hành vi nộp thuế luôn luôn ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của người nộp thuế.
Do đó ở Việt Nam cũng như các nước khác trên thế giới, người nộp thuế thường có xu hướng trốn hoặc tránh thuế. Khi mà nhận thức xã hội về thuế còn thấp, đại bộ phận người dân chưa hiểu rõ bản chất tốt đẹp và lợi ích của việc nộp thuế, chưa phê phán, lên án mạnh mẽ các hành vi gian lận tiền thuế. Chưa hỗ trợ tích cực cho cơ quan thuế để thu thuế theo đúng pháp luật. Tình trạng trốn thuế, gian lận thuế, nợ đọng thuế còn khá phổ biến vừa làm thất thu NSNN.
Vừa không đảm bảo công bằng xã hội. Bằng cách này hay cách khác, người nộp thuế luôn tìm mọi biện pháp để tối thiểu hóa số thuế mà họ phải nộp. Một trong các biện pháp đó là nợ thuế. Nợ thuế là hành vi vi phạm pháp luật về thuế Trong các quy định của pháp luật về thuế luôn luôn đề cập đến các phạm vi điều chỉnh như: mức nộp thuế người nộp thuế và thời gian phải nộp thuế.
Như vậy hành vi nợ thuế là hành vi vi phạm luật thuế của người nộp thuế bằng cách chậm nộp hoặc không nộp số tiền thuế phải nộp vào NSNN theo quy định của pháp luật thuế. Nợ thuế chưa hẳn là hành vi trốn thuế Trốn thuế là hành vi cố ý vi phạm pháp luật của đối tượng nộp thuế bằng mọi thủ đoạn, hình thức để làm giảm số thuế phải nộp vào NSNN. Còn nợ thuế mới chỉ là hành vi dây dưa, chậm nộp thuế khi quá thời hạn nộp theo quy định của pháp luật. Tất nhiên trong một số trường hợp việc nợ thuế có thể là một hành vi nằm trong chuỗi hành vi nhằm trốn thuế.
Chẳng hạn như một số doanh nghiệp cố tình nợ một số thuế lớn sau đó bỏ trốn không thực hiện nghĩa vụ nộp thuế. Nợ thuế khác với hành vi tránh thuế Tránh thuế là hành vi lợi dụng sơ hở của Luật thuế để giảm nghĩa vụ thuế. Còn nợ thuế thì khác hoàn toàn về bản chất. Đó là nghĩa vụ đã được luật pháp xác định nhưng cố tình dây dưa, chậm nộp.
Phân loại nợ thuế [15]. Căn cứ vào khả năng thu hồi nợ Căn cứ vào khả năng thu hồi nợ dựa trên những thông tin về người nợ thuế theo mức nợ, tuổi nợ, tình trạng hoạt động kinh doanh của người nợ thuế thì nợ thuế được phân loại thành: nợ có khả năng thu, nợ khó thu. - Nợ có khả năng thu: Theo thống kê, khoản nợ thuộc nhóm này thường chủ yếu là các khoản nợ mới phát sinh sau thời hạn nộp thuế được quy định tại các văn bản pháp quy về thuế. Do vậy, nợ có khả năng thu được hiểu là số tiền nợ thuế của người nợ thuế được xác định phải nộp vào NSNN nhưng đã hết thời hạn nộp theo quy 7 định của pháp luật mà chưa nộp, loại nợ này được chia thành thành các loại: nợ quá hạn dưới 30 ngày, quá hạn từ 31 ngày đến 60 ngày và 61 ngày đến 90 ngày, nợ từ 91 đến 120 ngày, nợ thuế quá 121 ngày trở lên.
- Nợ khó thu: Theo cách phân loại này, tiền nợ thuế khó thu bao gồm 2 nhóm chính sau: + Tiền nợ thuế đang xác định đối tượng để thu bao gồm các trường hợp sau. Tiền thuế nợ của NNT được pháp luật coi là đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự chưa có hồ sơ đề nghị xoá nợ. Tiền thuế nợ có liên quan đến trách nhiệm hình sự. Tiền thuế nợ của NNT bỏ địa chỉ kinh doanh.
Tiền thuế nợ của NNT chờ giải thể. Tiền thuế nợ của NNT mất khả năng thanh toán: + Tiền thuế nợ đã áp dụng hết các biện pháp cưỡng chế nợ thuế bao gồm: Tiền thuế nợ đã áp dụng hết các biện pháp cưỡng chế nợ thuế và dưới 10 năm. Tiền nợ thuế đã áp dụng tất cả các biện pháp cưỡng chế nợ thuế từ 10 năm trở lên. Căn cứ vào nội dung nợ của người nộp thuế Căn cứ vào nội dung các khoản nợ qua kê khai của người nộp thuế, qua công tác thanh tra, kiểm tra của cơ quan thuế thì nợ thuế được chia thành: nợ thuế, phí thông thường; nợ thuế, phí truy thu phải nộp sau thanh tra, kiểm tra.
- Nợ thuế, phí thông thường bao gồm các khoản nợ phát sinh từ số thuế, phí phải nộp do người nộp thuế kê khai với cơ quan thuế mà không bao gồm số thuế, phí bị truy thu bị phạt chậm nộp do cơ quan thuế thanh tra, kiểm tra phát hiện. - Nợ thuế, phí truy thu phải nộp sau thanh tra, kiểm tra. Đây là khoản nợ thuế mà cơ quan thuế sau quá trình kiểm tra, thanh tra đã phát hiện thêm số thuế phải nộp mà đơn vị bỏ sót ngoài sổ sách, không kê khai hoặc khai không chính xác ở tất cả các loại hồ sơ khai thuế trong năm tính thuế. Ở thời điểm cơ quan thuế tiến hành thanh tra, kiểm tra thì theo quy định số thuế này đã phải nộp vào NSNN nhưng có thể đơn vị do vô tình hoặc cố tình đã kê khai sai để 8 trốn thuế.
Số thuế này thường được thể hiện trên các biên bản kiểm tra, thanh tra và được các đoàn kiểm tra, thanh tra chốt lại ở thời điểm 31/12 hàng năm để thể hiện tình hình thực hiện nghĩa vụ với NSNN của người nộp thuế. Việc thống kê phân loại nhóm nợ này không phải là chính xác tuyệt đối bởi trong kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế của cơ quan thuế hàng năm thì không phải tất cả các đối tượng nộp thuế đều được thanh tra, kiểm tra. Do vậy số nợ thuộc nhóm nợ này chỉ phản ánh được số thuế phát hiện thêm được coi là nợ thuế của những người nộp thuế được thanh tra, kiểm tra. Từ đó đánh giá được các mức độ vi phạm pháp luật thuế của đối tượng nộp thuế trong từng thời kỳ cụ thể.
Căn cứ vào đối tượng nợ Nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay có nhiều thành phần kinh tế tham gia góp phần đa dạng hóa nền kinh tế thúc đẩy quá trình cạnh tranh và là động lực phát triển đất nước. Vì vậy căn cứ vào đối tượng nợ thuế thì người ta có thể chia thành các nhóm nợ khác nhau như sau: - Nợ thuế của doanh nghiệp nhà nước trung ương - Nợ thuế của doanh nghiệp nhà nước địa phương - Nợ thuế của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài - Nợ thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh - Nợ thuế của hộ kinh doanh cá thể Việc phân loại này có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá mức độ nợ thuế của từng loại hình người nộp thuế. Từ đó có biện pháp, chính sách để khuyến khích các loại hình doanh nghiệp phát triển. Đồng thời nghiên cứu những bất cập của nhóm nợ khác để có phương pháp quản lý hoặc xử lý phù hợp.
Căn cứ vào tính chất nợ - Nợ chờ xử lý bao gồm: Xử lý miễn giảm, xử lý gia hạn nộp thuế, xử lý xoá nợ, xử lý bù trừ các khoản nợ NSNN với số tiền thuế được hoàn trả. 9 - Nợ tiền thuế đang chờ điều chỉnh, bao gồm các trường hợp sau: NNT đã nộp tiền nhưng nhầm tiểu mục, mã số thuế, hoặc đã nộp tiền nhưng chứng từ luân chuyển chậm.