Chương 1 TỔNG QUAN VỀ NỢ NƯỚC NGOÀI VÀ QUẢN LÝ NỢ NƯỚC NGOÀI 1. KHUNG LÝ THUYẾT VỀ NỢ NƯỚC NGOÀI 1. Một số khái niệm Nợ nước ngoài Theo bản Thống kê nợ nước ngoài của Quỹ tiền tệ quốc tế IMF ngày 25/06/2003: “Tổng nợ nước ngoài tại một thời điểm bất kỳ là số dư nợ của các nghĩa vụ nợ hiện hành, không gồm nghĩa vụ nợ dự phòng, đòi hỏi con nợ hoàn trả gốc và/hoặc lãi tại một hoặc một vài thời điểm trong tương lai; là khoản nợ của người cư trú đối với người không cư trú của một quốc gia” [23, tr. Theo Quy chế quản lý vay và trả nợ nước ngoài (Ban hành kèm theo Nghị định số 134/2005/NĐ-CP ngày 01/11/2005 của Chính phủ) khái niệm nợ nước ngoài được hiểu như sau: “Nợ nước ngoài của quốc gia là số dư của mọi nghĩa vụ nợ hiện hành (không bao gồm nghĩa vụ nợ dự phòng) về trả gốc và lãi tại một thời điểm của các khoản vay nước ngoài của Việt Nam.
Nợ nước ngoài của quốc gia bao gồm nợ nước ngoài của khu vực công và nợ nước ngoài của khu vực tư nhân” [12]. Trong đó: - Nợ nước ngoài của khu vực công: bao gồm nợ nước ngoài của Chính phủ, nợ nước ngoài của chính quyền cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, nợ nước ngoài của các doanh nghiệp nhà nước, các tổ chức tài chính, tín dụng nhà nước và các tổ chức kinh tế nhà nước trực tiếp vay nước ngoài. 2 - Nợ nước ngoài của khu vực tư nhân: là nợ nước ngoài của các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế thuộc khu vực tư nhân, theo hình thức tự vay, tự trả hoặc được Chính phủ bảo lãnh. - Nợ nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh: là khoản nợ mà việc chi trả các nghĩa vụ nợ (gốc, lãi,.) được Chính phủ hoặc tổ chức công (các tổ chức tài chính, tín dụng nhà nước) được phép cấp bảo lãnh đứng ra bảo lãnh theo luật pháp hiện hành.
- Nợ nước ngoài theo phương thức tự vay, tự trả (hay còn gọi là nợ nước ngoài không được Chính phủ bảo lãnh): là các khoản nợ phải hoàn trả, bao gồm khoản gốc và lãi phát sinh từ việc vay nước ngoài của chính bên đi vay. Bên đi vay tự chịu trách nhiệm trả nợ với bên cho vay nước ngoài theo quy định của pháp luật. - Nghĩa vụ nợ dự phòng là các nghĩa vụ nợ tiềm ẩn, hiện tại chưa phát sinh nhưng có thể phát sinh khi xảy ra một trong các điều kiện đã được xác định trước, chẳng hạn người được bảo lãnh mất khả năng thanh toán hoặc phá sản. Cách tiếp cận về khái niệm nợ nước ngoài có sự khác nhau giữa các tổ chức trong nước và quốc tế.
Nợ nước ngoài theo IMF được thống kê ở phạm vi rộng hơn, bao gồm cả khoản nợ của người cư trú, tức là có tính đến nợ của các cá nhân và hộ gia đình. Trong khi đó đối tượng được vay vốn nước ngoài theo Quy chế quản lý vay và trả nợ nước ngoài chỉ bao gồm chính phủ, doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế. Hiện nay Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh số 06/2013/UBTVQH13 ngày 18/03/2013 về việc Sửa đổi, bổ sung một số điều Pháp lệnh Ngoại hối, trong đó bổ sung vào Điều 17 cho phép người cư trú là cá nhân thực hiện vay, trả nợ nước ngoài theo nguyên tắc tự vay, tự chịu trách nhiệm trả nợ theo quy định của Chính phủ. Pháp lệnh này có hiệu lực thi hành vào ngày 01/01/2014 [16].
Tái cấu trúc nợ: Tái cấu trúc nợ có thể được hiểu là sự thỏa thuận lại giữa quốc gia chủ nợ và quốc gia con nợ về các điều kiện, điều khoản nghĩa vụ nợ trong hợp đồng vay đã 3 ký kết trước đó, theo hướng giảm bớt gánh nặng nợ cho bên đi vay. Tái cấu trúc nợ bao gồm ba yếu tố chính: - Giãn nợ: là hoạt động làm giảm áp lực trả nợ cho người đi vay bao gồm gia hạn nợ và cơ cấu kỳ hạn nợ. Gia hạn nợ là việc kéo dài thời điểm đáo hạn của hợp đồng vay nợ, như vậy một khoản vay được gia hạn nợ sẽ có lãi suất thấp hơn. Cơ cấu kỳ hạn nợ là việc thay đổi thời gian đáo hạn của từng nghĩa vụ nợ cụ thể mà không làm kéo dài thời gian đáo hạn cuối cùng của khoản nợ.
Thay đổi kỳ hạn nợ chỉ có tác dụng làm giảm áp lực thanh toán trong ngắn hạn cho quốc gia con nợ. - Xóa nợ: là giảm giá trị danh nghĩa của các công cụ nợ cũ hay giá trị các khoản nợ đã vay. - Tái tài trợ: là thỏa thuận trong đó người cho vay thỏa thuận tài trợ cho việc thanh toán các nghĩa vụ nợ phát sinh của khoản vay trước đây thông qua một khoản vay mới. Vỡ nợ Vỡ nợ có thể hiểu là tình trạng quốc gia con nợ không thực hiện được đầy đủ các nghĩa vụ nợ cam kết trong hợp đồng vay vốn, bao gồm nợ gốc, lãi hoặc cả gốc và lãi.
Một quốc gia vỡ nợ có thể là do không được tái cấu trúc nợ hoặc được chấp thuận tái cấu trúc nhưng vẫn không thanh toán được các khoản nợ. Một số tiêu chí phân loại nợ nước ngoài 1. Tiêu chí nhóm chủ nợ: bao gồm nợ các chủ nợ khu vực công và nợ các chủ nợ tư nhân. - Nợ các chủ nợ khu vực công: các khoản nợ này có thể là nợ đa phương hay nợ song phương.
Chủ nợ khu vực công thường là Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế IMF, các cơ quan Liên hiệp quốc, các tổ chức quốc tế đa phương như OPEC (Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ), Ngân hàng phát triển Châu Á ADB, Hiệp hội phát triển quốc tế IDA, Ngân hàng Quốc Tế về Tái Thiết và Phát triển IBRD, Quỹ phát triển nông nghiệp quốc tế IFAD,…. Trong khi đó chủ nợ 4 song phương là người cho vay ở từng nước riêng biệt, hoặc một tổ chức quốc tế nhân danh cho chính phủ một nước tài trợ. - Nợ các chủ nợ tư nhân: là khoản nợ được cho vay bởi các chủ nợ không phải là chính phủ và các tổ chức thuộc khu vực công. Các chủ nợ tư nhân thường là các tổ chức tài chính tư nhân, các nhà xuất khẩu, các nhà cung cấp hàng hóa khác có khả năng tài chính.
Các khoản nợ này không được chính phủ bảo lãnh, người đi vay tự tiến hành các thủ tục vay và có trách nhiệm tự hoàn trả các khoản vay đó. Tiêu chí chủ thể đi vay: gồm nợ nước ngoài của khu vực công và nợ nước ngoài của khu vực tư nhân. - Vay nước ngoài của khu vực công dưới hình thức các khoản vay ưu đãi, các khoản hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vay thương mại hoặc tín dụng xuất khẩu và vay từ thị trường vốn quốc tế dưới hình thức phát hành trái phiếu ra nước ngoài, do cơ quan được uỷ quyền của Nhà nước hoặc Chính phủ ký vay dưới danh nghĩa Nhà nước hoặc Chính phủ với người cho vay nước ngoài. - Nợ nước ngoài khu vực tư nhân đôi khi là các khoản nợ phát sinh trong giao dịch mua bán hàng hóa trả chậm với phía đối tác nước ngoài.
Tiêu chí điều khoản ưu đãi: theo tiêu chí này thì nợ nước ngoài được phân thành vay hỗ trợ phát triển chính thức và vay thương mại nước ngoài. - Vay hỗ trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance, viết tắt là ODA): là khoản vay dành cho các quốc gia đang và kém phát triển với thời hạn vay dài, do Chính phủ đứng ra thỏa thuận trực tiếp nhằm mục đích phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi xã hội. Các khoản vay này thường được ưu đãi ở một hoặc một số điều khoản thuận lợi hơn so với các khoản vay trên thị trường. Điều khoản ưu đãi thường là cho vay không lãi suất (viện trợ), cho vay lãi suất thấp hoặc thời gian ân hạn dài, hoặc kết hợp cả lãi suất và thời gian ân hạn.
Vay hỗ trợ phát triển chính thức luôn có một phần viện trợ không hoàn lại, ít nhất khoảng 25% trong tổng số vốn ODA cung cấp. Việc hoàn trả các khoản vay này được thực hiện bằng tiền tệ chuyển đổi hoặc bằng hàng hóa. 5 - Vay thương mại nước ngoài: là các khoản vay nước ngoài không phải là vay ODA. Vay thương mại thường không được hỗ trợ về lãi suất cũng như thời gian ân hạn, lãi suất khoản vay thương mại căn cứ vào lãi suất thị trường vốn quốc tế và thay đổi tùy thuộc theo lãi suất thị trường tại thời điểm vay.
Vay thương mại của các cá nhân, doanh nghiệp theo phương thức tự vay, tự trả có độ rủi ro lớn nên lãi suất sẽ cao hơn các khoản vay ODA. Tiêu chí thời hạn vay: gồm các khoản vay ngắn hạn và trung dài hạn. Thời hạn cho vay đối với một khoản vay thông thường trên thị trường tiền tệ thường được phân làm 3 mốc: ngắn hạn (dưới 1 năm), trung hạn (từ 1 đến 3 năm) và dài hạn (trên 3 năm). Tuy nhiên đối với khoản nợ nước ngoài của chính phủ, các mốc phân loại này có sự khác biệt.
Nợ ngắn hạn là khoản nợ có thời gian đáo hạn từ 1 năm trở xuống, nợ trung hạn từ trên 1 năm đến 10 năm, trên 10 năm mới trở thành nợ dài hạn. Để có thể dễ dàng so sánh và đánh giá, nợ nước ngoài căn cứ theo tiêu chí thời hạn vay được phân thành 2 nhóm, nợ ngắn hạn (dưới 1 năm) và nợ trung dài hạn (từ 1 năm trở lên). Tác động hai mặt của nợ nước ngoài đối với các nước đang phát triển 1. Nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế Sự khác biệt to lớn trong thu nhập giữa các nước giàu và các nước nghèo trên thế giới đã gây nhiều tranh cãi trong nhiều thập niên trước.
Các tranh luận này là tiền đề để các nhà kinh tế học thời đó bắt tay vào nghiên cứu và xây dựng các lý thuyết, các mô hình về tăng trưởng kinh tế, nhằm tìm ra những yếu tố then chốt ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế của một quốc gia, tìm ra nguyên do vì sao quốc gia này lại kém phát triển hơn các quốc gia khác, từ đó đưa ra các phương pháp rút ngắn cách biệt thu nhập giữa các nước. Các học thuyết này có ý nghĩa quan trọng ảnh hưởng đến tư duy phát triển cho đến ngày nay. Trong số đó, nhà kinh tế học Paul Athony Samuelson với “Lý thuyết vòng luẩn quẩn và cú huých bên ngoài” đã giải thích được sự chậm tiến ở các nước đang và kém phát triển.