Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nợ nước ngoài của một quốc gia. Chương 2: Thực trạng quản lý nợ nước ngoài ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và tăng cường công tác quản lý nợ nước ngoài ở Việt Nam trong thời gian tới. 8 z Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NỢ NƢỚC NGOÀI CỦA MỘT QUỐC GIA 1.1 Khái quát về nợ nƣớc ngoài 1.1 Khái niệm Nợ nước ngoài của quốc gia là tổng các khoản nợ nước ngoài của Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh, nợ của doanh nghiệp và tổ chức khác được vay nước ngoài theo phương thức tự vay, tự trả theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Theo Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng tái thiết quốc tế (BIS), Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đưa ra định nghĩa nợ nước ngoài một cách bao quát hơn như sau: “Tổng vay nợ nước ngoài là khối lượng nghĩa vụ nợ vào một thời điểm nào đó đã được giải ngân và chưa hoàn trả, được ghi nhận bằng hợp đồng giữa người cư trú về việc hoàn trả các khoản gốc cùng với lãi hoặc không lãi, hoặc về việc hoàn trả các khoản lãi cùng với gốc hoặc không cùng với các khoản gốc”. Nợ nước ngoài của một quốc gia đồng nghĩa với việc quốc gia đó thực hiện một cam kết để có đồng vốn vay đồng thời kèm theo đó là nghĩa vụ trả nợ. Trong đó, cam kết là nghĩa vụ chắc chắn cho vay, bảo lãnh hoặc bảo đảm một khoản tiền cụ thể theo các điều khoản và điều kiện tài chính cụ thể. Nghĩa vụ trả nợ đề cập tới việc hoàn trả cả gốc, lãi và các khoản phí.
Khoản trả nợ thực tế là tổng số tiền phải thanh toán để thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nợ, bao gồm cả gốc, lãi và các khoản phí đến hạn thanh toán. Nghĩa vụ nợ trả theo lịch là toàn bộ các khoản thanh toán bao gồm thanh toán gốc, lãi và phí phải trả tại từng thời điểm trong thời gian trả nợ. Căn cứ theo quy định tại Nghị định số 134/2005/NĐ-CP ngày 01/11/2005 của Chính phủ xác định: “nợ nước ngoài của quốc gia là số dư của mọi nghĩa vụ nợ hiện hành (không bao gồm nghĩa vụ nợ dự phòng) về trả gốc và lãi tại một thời điểm của các khoản vay nước ngoài của Việt Nam. Nợ nước ngoài của quốc gia bao gồm nợ nước ngoài của khu vực công và nợ nước ngoài của khu vực tư nhân”.
Theo đó, định nghĩa về vay nước ngoài được phát biểu như sau: 9 z “Vay nước ngoài là các khoản vay ngắn hạn (có thời hạn vay đến một năm), trung và dài hạn (có thời hạn vay trên một năm), có hoặc không phải trả lãi, do Nhà nước, Chính phủ Việt Nam và các tổ chức tài chính quốc tế, Chính phủ các nước, các tổ chức và cá nhân là người không cư trú (sau đây gọi tắt là người cho vay nước ngoài).” Như vậy xét về bản chất của nợ nước ngoài, không có sự khác biệt đáng kể nào trong các định nghĩa về nợ nước ngoài của Việt Nam hay của các tổ chức Quốc tế. Tuy nhiên, định nghĩa về nợ của Quốc tế rõ ràng hơn, đi vào bản chất hơn. Khái niệm nợ nước ngoài về cơ bản mang ý nghĩa thống kê và nhất quán với Hệ thống thống kê tài khoản quốc gia (SNA).2 Phân loại nợ nƣớc ngoài 1. Phân loại nợ nước ngoài theo chủ thể đi vay a.
Nợ công và nợ tư nhân được Chính phủ bảo lãnh Nợ công được định nghĩa là “các nghĩa vụ nợ của khu vực công” và bao gồm nợ của khu vực công cùng với nợ của khu vực tư nhân được khu vực công bảo lãnh. Khu vực công bao gồm các loại thể chế sau: (1) Chính phủ trung ương và các bộ, ban ngành; (2) Các cơ quan chính trị cấp dưới, như tỉnh, huyện và thành phố; (3) Các ngân hàng trung ương; (4) Các thể chế tự quản, trong đó ngân sách của thể chế đó phải được Chính phủ phê duyệt hoặc đạt trên một nửa số thành viên của Hội đồng quản trị là các đại diện của Chính phủ hoặc trong trường hợp phá sản, nhà nước sẽ phải chịu trách nhiệm về khoản nợ của thể chế đó. Bất kỳ một đơn vị thể chế trong nước nào khi không đáp ứng được một trong ba điều kiện nêu trên thì sẽ được phân loại là khu vực tư nhân. Nợ nước ngoài của khu vực tư nhân được khu vực công bảo lãnh được xác định là các khoản nợ nước ngoài của khu vực tư nhân mà nghĩa vụ trả nợ được bảo lãnh theo căn cứ trên hợp đồng bởi một đối tượng thuộc khu vực công cư trú tại cùng một nền kinh tế với bên nợ đó.
Nợ tư nhân Nợ tư nhân bao gồm khoản nợ nước ngoài của khu vực tư nhân mà không được khu vực công trong cùng một nền kinh tế bảo lãnh theo hợp đồng. Về bản chất đây là các khoản nợ do khu vực tư nhân tự vay, tự trả. Trong thực tế, có những khoản nợ nước ngoài của khu vực tư nhân được một thể chế thuộc khu vực công cư trú trong cùng nền kinh tế bảo lãnh một phần theo hợp đồng. Đối với những khoản nợ như vậy thì giá trị hiện tại của các khoản thanh toán được bảo lãnh được xếp vào loại nợ nước ngoài của khu vực tư nhân được công quyền bảo lãnh, trong khi những khoản thanh toán không được bảo lãnh được xếp vào loại nợ nước ngoài của khu vực tư nhân không được bảo lãnh.
Chẳng hạn, phát sinh một khoản nợ nước ngoài của doanh nghiệp tư nhân hoạt động đa lĩnh vực cả sản xuất và thương mại, chỉ được Ngân hàng Nhà nước bảo lãnh các khoản vay liên quan đến vay để sản xuất thì giá trị của các khoản vay sản xuất sẽ được cộng vào nợ nước ngoài của khu vực tư nhân được công quyền bảo lãnh, trong khi giá trị các khoản vay nhằm mục đích thương mại sẽ thuộc loại nợ nước ngoài của khu vực tư nhân không được công quyền bảo lãnh. Phân loại nợ nước ngoài theo thời hạn vay a. Nợ dài hạn Nợ dài hạn là những công nợ có thời gian đáo hạn gốc theo hợp đồng hoặc đã gia hạn kéo dài trên 1 năm tính từ ngày ký kết vay nợ cho tới ngày đến hạn khoản thanh toán cuối cùng. Nợ dài hạn là loại nợ cần được quan tâm quản lý nhiều hơn do khả năng tác động lớn tới nền tài chính quốc gia với lượng vốn vay lớn cộng với việc tiềm ẩn rủi ro nhất định trong thời gian vay kéo dài.
Các tổ chức tài chính quốc tế thường xuyên theo dõi và phân tích nợ dài hạn của tất cả các quốc gia một cách có hệ thống, từ các số liệu phân tích trên có thể đánh giá tình hình vay nợ của một quốc gia. Hàng năm và hàng quý, Ngân hàng Thế giới yêu cầu nước vay nợ phải nộp bản Báo cáo bên nợ (DRS), trong đó bao gồm báo cáo về tất cả các khoản nợ dài hạn phải trả bằng đồng tiền của nước bên nợ và bằng hàng hóa dịch vụ. Nợ ngắn hạn Nợ ngắn hạn là loại nợ có thời gian đáo hạn từ 1 năm trở xuống. Thông thường, nợ ngắn hạn chỉ chiếm một tỷ trọng không đáng kể trong tổng nợ nước ngoài nói chung của một quốc gia.
Vì thời gian đáo hạn ngắn, khối lượng thường không đáng kể, nợ ngắn hạn thường không thuộc đối tượng quản lý một cách chặt chẽ như nợ dài hạn. Tuy nhiên, thời gian vay ngắn cũng là một điểm hạn chế của nợ ngắn hạn khi khoản nợ không được trả đúng hạn sẽ gây mất ổn định cho hệ thống ngân hàng. Đặc biệt khi tỷ trọng nợ ngắn hạn trong tổng nợ đang có xu hướng tăng, cần phải hết sức thận trọng vì luồng vốn rút ra đột ngột có thể gây bất ổn nghiêm trọng cho nền tài chính quốc gia. Phân loại nợ nước ngoài theo loại hình vay a.
Vay hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) Theo định nghĩa của Tổ chức OECD, vay hỗ trợ phát triển chính thức (hay còn gọi ODA) bao gồm các chuyển khoản song phương (giữa các Chính phủ) hoặc đa phương (từ các tổ chức quốc tế cho các Chính phủ), trong đó ít nhất 25% tổng giá trị chuyển khoản là cho không, không phải hoàn trả. Hỗ trợ phát triển chính thức có thể bao gồm: các khoản cho không (bao gồm cả hỗ trợ về kỹ thuật); các khoản cho vay ưu đãi với lãi suất thấp; các đóng góp bằng hiện vật; tín dụng của nước cung cấp hàng hóa và tiền bồi thường. Các khoản ODA không bao gồm viện trợ về quân sự giữa các Chính phủ và chuyển khoản của các tổ chức phi Chính phủ. Theo quy ước, luồng vốn ODA bao gồm các đóng góp của các cơ quan chính phủ tài trợ ở tất cả các cấp cho các nước đang phát triển (ODA song phương giữa Chính phủ với Chính phủ) và của các tổ chức đa phương cho các Chính phủ.
Việc nhận ODA của một quốc gia bao gồm việc giải ngân từ các nhà tài trợ song phương và các tổ chức đa phương. Việc cho vay bởi các tổ chức tín dụng xuất khẩu với mục tiêu khuyến khích xuất khẩu không được tính vào nguồn ODA. Tính ưu đãi của vay hỗ trợ phát triển chính thức: Đây là loại nợ có nhiều điều kiện ưu đãi, ưu đãi về lãi suất, về thời gian trả nợ và thời gian ân hạn. Lãi suất của 12 z hỗ trợ phát triển chính thức thường thấp hơn hẳn so với nợ thương mại.
Thời hạn cho vay của hỗ trợ phát triển chính thức dài (có thể lên tới 10, 15 hoặc 20 năm) và thời gian ân hạn dài, do vậy các nước đang phát triển thường hướng tới nguồn vốn này để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Tính ưu đãi của vay hỗ trợ phát triển chính thức rất rõ rệt, tuy nhiên, việc vay nợ hỗ trợ phát triển chính thức đôi khi kèm theo điều kiện ràng buộc khiến cho cái giá phải trả tăng lên đáng kể. Chẳng hạn, khi được cam kết cho vay thì một điều kiện thường hay được đi kèm theo bắt buộc là nước vay nợ bắt buộc phải mua hàng hóa và dịch vụ từ nước cho vay với giá thương mại hoặc có khi là đắt hơn giá thị trường.