CHƯƠNG 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ BIỆN PHÁP TẠM GIỮ THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm, mục đích, ý nghĩa của việc quy định biện pháp tạm giữ 1. Khái niệm biện pháp tạm giữ Biện pháp tạm giữ là một biện pháp ngăn chặn (BPNC) được quy định từ rất lâu trong pháp luật TTHS của nước ta như ở Điều 68 của BLTTHS 1988, Điều 86 của BLTTHS 2003 và Điều 117 của BLTTHS năm 2015. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có một khái niệm chung thống nhất về biện pháp tạm giữ, dẫn đến có nhiều cách hiểu chưa thống nhất.
Vì biện pháp tạm giữ là một trong những biện pháp ngăn chặn nên có thể hiểu biện pháp tạm giữ ở những gốc độ như: Theo Giáo trình Luật TTHS của Trường đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh đưa ra khái niệm BPNC thì: “BPNC là những biện pháp cưỡng chế do pháp luật tố tụng hình sự quy định và được áp dụng đối với bị can, bị cáo hoặc người chưa bị khởi tố hình sự nhằm kịp thời ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, hoặc có những hành động gây khó khăn 1 cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự”. Khái niệm này đã chỉ ra được đối tượng có thể bị áp dụng và mục đích của việc áp dụng BPNC, tuy nhiên không nêu ra những chủ thể có thẩm quyền áp dụng BPNC. Giáo trình Luật TTHS của Trường đại học Luật Hà Nội đưa ra khái niệm BPNC như sau: “BPNC là biện pháp cưỡng chế trong TTHS được áp dụng đối với bị can, bị cáo, người bị truy nã hoặc đối với người chưa bị khởi tố (trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang) nhằm ngăn chặn hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành vi cản trở cho 2 việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án”. Khái niệm này đã trình bày được những đối tượng có thể bị áp dụng, mục đích và căn cứ của việc áp dụng BPNC nhưng lại chưa nêu được những chủ thể có thẩm quyền áp dụng BPNC.
Quan điểm của tác giả Nguyễn Đức Mai cho rằng: “BPNC là những biện pháp tố tụng do cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng đối với người bị buộc tội (bao gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo) khi có căn cứ do Bộ luật này quy định, nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn bị can, bị cáo gây khó 1 Trường Đại học Luật TPHCM (2013), Giáo trình Luật TTHS, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, tr. 259 2 Trường đại học Quốc Gia Hà Nội (2014), Giáo trình Luật TTHS Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc Gia, Hà Nội.
8 khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hoặc ngăn ngừa họ tiếp tục 3 phạm tội”. Quan điểm của tác giả Phạm Mạnh Hùng cho rằng: “BPNC là biện pháp do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng đối với người bị nghi là thực hiện tội phạm, bị can, bị cáo nhằm ngăn chặn việc người đó bỏ trốn, tiêu hủy chứng cứ, gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hoặc sẽ tiếp 4 tục phạm tội”. Qua các quan điểm khoa học nêu trên tác giả đưa ra một nhận xét rằng nhìn chung các tác giả đã nêu ra được các yếu tố cần có của một biện pháp ngăn chặn như về chủ thể áp dụng, đối tượng áp dụng, mục đích và ý nghĩa của việc áp dụng BPNC. Vây nên, tổng hòa của các quan điểm trên khái niệm về BPNC được hiểu như sau: BPNC là một trong những biện pháp cưỡng chế được quy định trong luật TTHS, do cơ quan có thẩm quyền áp dụng đối với bị can, bị cáo, người bị truy nã, người bị kết án hoặc người chưa bị khởi tố (trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang) nhằm kịp thời ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội mới, trốn tránh pháp luật hoặc có hành vi gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.
Xét trên phương diện pháp lý (từ BLTTHS năm 1988 đến khi BLTTHS năm 2015 có hiệu lực) thì cho đến hiện nay pháp luật tố tụng hình sự nước ta vẫn chưa có một khái niệm chính thức về biện pháp tạm giữ. Nghiên cứu các công trình khoa học cho thấy có nhiều tác giả đưa ra các quan điểm khác nhau về khái niệm tạm giữ trong pháp luật tố tụng hình sự, một số quan điểm tiêu biểu như: Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Tạm giữ là một biện pháp ngăn chặn được quy định trong BLTTHS do cơ quan và người có thẩm quyền áp dụng nhằm kịp thời ngăn chặn người phạm tội không gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố, xét xử, không 5 tiếp tục thực hiện tội mới và khi cần thiết còn đảm bảo cho việc thi hành án”. Quan điểm thứ hai cho rằng: “Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự người có thẩm quyền của cơ quan điều tra và các cơ quan khác do pháp luật quy định áp dụng, tạm thời hạn chế tự do thân thể trong thời hạn ngắn đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, 3 Nguyễn Đức Mai (2019), Bình luận khoa học Bộ luật TTHS, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.
4 Phạm Mạnh Hùng (2019), Bình luận khoa học Bộ luật TTHS năm 2015,Nxb. Lao động, Hà Nội, tr. 221 5 Võ Bình Vương (2019), Kiểm sát việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sỹ, Học viện khoa học xã hội, tr. 9 đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn hành vi cản trở hoạt động điều tra của người bị tạm giữ, bảo đảm cho Cơ quan điều tra có thời gian tiến hành các hoạt động điều tra ban đầu để trên cơ sở đó ra các quyết định tố tụng như khởi tố bị can, tạm giam, áp dụng các biện 6 pháp ngăn chặn khác hoặc trả tự do cho họ”.
Theo bài viết đăng trên trang của Tòa án nhân dân tối cao nhận định: Tạm giữ là một trong những biện pháp ngăn chặn trong TTHS và là một biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc do những người có thẩm quyền quyết định, khi được áp dụng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền cơ bản của công dân, hạn chế tự do thân thể trong một thời hạn nhất định đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả 7 tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã. Căn cứ vào các quan điểm về khái niệm tạm giữ trên có thể thấy mỗi cách tiếp cận đều phản ánh đúng bản chất, đặc điểm và ý nghĩa của biện pháp tạm giữ trong pháp luật tố tụng hình sự. Quan điểm thứ nhất đã nêu được đầy đủ thẩm quyền áp dụng và mục đích của biện pháp tạm giữ, tuy nhiên còn thiếu đối tượng áp dụng của biện pháp tạm giữ. Quan điểm thứ hai đã nêu được đầy đủ hơn về tính chất pháp lý, thẩm quyền áp dụng, đối tương bị áp dụng và mục đích của biện pháp tạm giữ trong tố tụng hình sự.
Quan điểm thứ hai cũng đã nêu thêm về thời gian áp dụng biện pháp tạm giữ “trong thời hạn ngắn”, tuy nhiên đây là nhận định chưa hoàn toàn chính xác. Theo quy định tại BLTTHS hiện hành thì thời hạn tạm giữ là không quá ba ngày kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền nhận người hoặc ra quyết định tạm giữ trong trường hợp người phạm tội tự thú, đầu thú. Trường hợp cần thiết cơ quan có thẩm quyền gia hạn hai lần nhưng mỗi lần gia hạn không quá ba ngày. Như vậy, để đảm bảo tính chính xác và ngôn ngữ pháp lý trong khái niệm biện pháp tạm giữ không nên dùng cụm từ “trong thời hạn ngắn”.
Song qua quá trình tìm hiểu các quy định pháp luật liên quan đến biện pháp tạm giữ và một số quan điểm trong công trình nghiên cứu khóa học cho thấy quan điểm thứ hai nêu trên đã đưa ra một khái niệm khá đầy đủ, chi tiết, thể hiện được vị trí, vai trò, thẩm quyền áp dụng, đối tượng áp dụng của biện pháp tạm giữ trong pháp luật tố tụng hình sự. 6 Lưu Xuân Lợi (2017), Biện pháp ngăn chặn tạm giữ trong trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sỹ luật học, Học viện khoa học xã hội, tr. 7Tòa án nhân dân tối cao “Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của Bộ luật tố tụng về biện pháp ngăn chặn tạm giữ”, http://hvta.vn/portal/page/portal/tandtc/baiviet?p_page_id=1754190&p_cateid=175 1909&article_details=1&item_id=18316812#:~:text=T%E1%BA%A1m%20gi%E1%BB%AF%20l%C3%A 0%20m%E1%BB%99t%20trong,b%E1%BB%8B%20b%E1%BA%AFt%20trong%20tr%C6%B0%E1%BB %9Dng%20h%E1%BB%A3p, truy cập ngày 17/8/2020. 10 Theo đó, Giáo trình Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh nhận định: Tạm giữ là một biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do những người có thẩm quyền áp dụng đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm 8 tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã.
Kế thừa những quan điểm trên cũng với các quy định pháp luật tố tụng hình sự hiện hành, tác giả đưa ra khái niệm về biện pháp tạm giữ như sau: “Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do cơ quan hoặc người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật TTHS áp dụng, tạm thời hạn chế tự do thân thể trong thời hạn luật định đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã nhằm ngăn chặn hành vi phạm tội, bảo đảm cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử đúng quy định của pháp luật. Mục đích, ý nghĩa của việc quy định biện pháp tạm giữ *Mục đích Tiếp tục thực hiện mục đích của biện pháp bắt người, đó là tiếp tục ngăn chặn người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bị truy nã, người phạm tội tự thú, đầu thú không để họ tiếp tục, tạo điều kiện phạm tội.